Sign up

PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI - BIẾN CHỨNG - ĐIỀU TRỊ & PHÒNG NGỪA

Published on 09:18, 02/25,2010

PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHIBIẾN CHỨNG VÀ PHÒNG NGỪABS Huỳnh Bá LĩnhBV CTCH TPHCMBV VẠN HẠNH Phẫu thuật kéo dài chi có từ đầu thế kỷ 20, và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới từ đầu thập niên 90. Phương pháp Ilizarov truyền thống ít còn được sử dụng vì những hạn chế về thời gian mang khung kéo dài.Hai phương pháp mới được sử dụng phổ biến hiện nay là LON ( Lengthening Over Nail) và Đinh nội tủy điện tử, châu Âu gọi là Telescopic Nail, Mỹ gọi là ISKD ( Intramedullary Skeletal Kinetic Distractor). Trong đó vì giá thành đinh điện tử đắt và kỹ thuật chưa được hoàn thiện nên chỉ có LON là được sử dụng rộng rãi hơn cả. PHẪU THUẬT LON (Lengthening Over Nail)Đúng như tên gọi, kéo dài qua đinh sử dụng kỹ thuật đặt khung cố định ngoài để kéo trượt xương tách rời dài ra phối hợp với một đinh nội tủy giữ trục cho xương ống. Khi xương đã dài đủ thì người ta tháo khung và chốt ngang hai đầu đinh để giữ đúng chiều dài đó cho đến khi lành xương hoàn toàn. Nhờ vậy mà thời gian mang khung chỉ còn 3 tháng cho 5 – 6 cm kéo dài thay vì 14 – 18 tháng như phương pháp Ilizarov truyền thống. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT LON.Cho đến nay, phẫu thuật LON được xếp vào loại ít biến chứng nhất trong các phẫu thuật xương khớp theo báo cáo của nhiều tác giả đăng trên tạp chí JBJS (Journal of Bone and Joint Surgery) năm 2004. Tuy nhiên cũng như các phẫu thuật khác, LON vẫn có những biến chứng cần phải khắc phục kịp thời Biến chứng sớm: 1.. Biến chứng thường gặp:· Đau nhức vết thươngĐau nhiều trong đêm đầu sau mổ khi hết tác dụng của thuốc mê. Để khắc phục điều này, người ta áp dụng kỹ thuật gây tê tủy sống ngoài màng cứng để phong bế cơn đau 1 – 2 ngày sau mổ. Do phẫu thuật LON chỉ bao gồm 5 sẹo nhỏ dài 3 cm nên thường chỉ đau 1- 2 ngày sau mổ. · Sưng cẳng chân: Chảy máu từ vết thương và vị trí cắt xương sẽ gây sưng cẳng chân. Sưng nhiều sẽ làm căng tức khó chịu cho người bệnh. Nằm nghỉ kê chân cao và chườm lạnh trong vài ngày sau mổ sẽ giúp giảm sưng.. · Nhiễm trùng đường mổ:Vết thương bị sưng tấy, viêm đỏ. Sốt cao và kéo dài trên 3 ngày. Đó là những dấu hiệu của nhiễm trùng. Vì thế trước mổ, trong mổ và cả sau mổ người ta sử dụng kháng sinh mạnh qua đường tĩnh mạch để ngăn ngừa nhiễm trùng. Thời gian sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch tối thiểu là 3 ngày. Sau đó có thể sử dụng kháng sinh đường uống cho đến khi lành vết thương, thường khoảng 7 – 10 ngày. · Viêm chân đinh:Biểu hiện đau và rỉ dịch quanh các chân đinh của khung cố định ngoài.. Nếu đau nhiều và kéo dài thì phải tháo đinh, xuyên lại đinh khác. Thông thường chỉ cần cần chăm sóc chân đinh đúng cách và uống kháng sinh thì khắc phục được biến chứng này. 2. Biến chứng hiếm gặp:* Tổn thương động mạch: thường gặp trong thì mổ cắt xương. Nguyên nhân do cấu trúc bất thường của mạch máu. Điều này có thể tránh được nhờ các dụng cụ che chắn và kinh nghiệm phẫu thuật viên trong thao tác phẫu thuật. Biến chứng này rất hiếm gặp và chỉ xảy ra trên các bệnh nhân có dị dạng mạch máu. · Tổn thương thần kinh mác chung, mác sâu: sau mổ có biểu hiện tê mu bàn chân, kẽ ngón 1-2, mất duỗi cổ chân, hay duỗi các ngón. Phần nhiều là do chèn ép do tăng áp lực khoang. Hầu hết bình phục sau vài tuần hoặc vài tháng. Nguyên nhân hiếm gặp hơn là do kim Kirschner xuyên trúng thì phải rút kim ra, xuyên lại vị trí khác.· Can xương mọc chậm: thường gặp ở những người trên 40 tuổi. Trường hợp lâu nhất là một bệnh nhân nam 43 tuổi với thời gian tạo can là gần 3 năm. · Can xương mọc nhanh:Bình thường can xương sẽ ngấm vôi sau khi ngưng căng dãn khiến khối xương mới cứng và chắc dần dần. Tuy nhiên có một số trường hợp có cầu xương mọc sớm nối liền hai đầu xương ngay sau mổ. Can xương này thường do màng xương tạo ra. Điều này xảy ra trên một số cơ địa có phản ứng tạo xương quá mức bình thường. Trường hợp tạo can nhanh nhất là 10 ngày sau mổ ở một bệnh nhân nữ 18 tuổi. Nó gây cản trở sự căng dãn xương. Khắc phục bằng cách mổ cắt bỏ cầu xương nối. Phẫu thuật nhẹ nhàng, ít đau, về liền trong ngày. Sau đó tiếp tục kéo dãn bình thường. Biến chứng muộn:· Co rút gân gót:Sau mổ, gân gót co rút là phản xạ tự nhiên của cơ thể giúp giảm áp lực căng cơ khoang sau. Tuy nhiên nếu không tiến hành tập sớm thì sẽ gây ra biến chứng bàn chân ngựa vì quá trình kéo dãn sẽ gây co rút gân gót nặng hơn. Đây là biến chứng dễ khắc phục bằng cách tập vật lý trị liệu thụ động hay chủ động. Những trường hợp tập yếu hoặc không hiệu quả thì người ta mổ kéo dài gân gót sau khi tháo khung kéo xương 6 tuần Phẫu thuật nhẹ nhàng ít đau và không cần nằm viện· Hôi chứng rối loạn dinh dưỡng: (hội chứng Volkmann muộn, chèn ép khoang mãn tính)Do quá trình căng dãn tiến hành nhanh hơn bình thường khiến các cấu trúc phần mềm bao gồm mạch máu, thần kinh, gân cơ không dãn nở theo kịp gây ra phản ứng co thắt. Nhẹ thì biểu hiện tê, da ngón chân bị tím, màu da sẫm lại hơn bình thường, mất duỗi ngón chân, cổ chân. Năng hơn thì bị thêm đau nhức đến mất ngủ. Nặng nhất sẽ gây liệt hay hoại tử do thiếu máu. Khắc phục bằng cách ngưng kéo dãn, ép khung ngược lại. Nghỉ ngơi, kê chân cao. Phòng tránh bằng cách kéo dãn đúng tốc độ qui định.· Sẹo xấu:Bao gồm sẹo lồi, sẹo to, sẹo thâm. Điều trị bằng cách mổ cắt sẹo khâu thẩm mỹ.· Viêm khớp gối:Hiếm gặp và có thể do chăm sóc chân đinh gần khớp gối không đúng cách nên bị nhiễm trùng thứ phát.· Giới hạn gấp gối:Thường xảy ra trên những ca viêm chân đinh gần khớp gối gây phản ứng đau không tập co gối được.


PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI

Published on 09:15, 02/25,2010

PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI

BIẾN CHỨNG VÀ PHÒNG NGỪA

BS Huỳnh Bá Lĩnh

BV CTCH TPHCM

BV VẠN HẠNH

 

Phẫu thuật kéo dài chi có từ đầu thế kỷ 20, và được áp dụng  rộng rãi trên toàn thế giới từ đầu thập niên90. Phương pháp Ilizarov truyền thống ít còn được sử dụng vì những hạn chế vềthời gian mang khung kéo dài.

Hai phương pháp mới được sử dụng phổ biến hiện nay là LON ( LengtheningOver Nail) và Đinh nội tủy điện tử, châu Âu gọi là Telescopic Nail, Mỹ gọi làISKD ( Intramedullary Skeletal Kinetic Distractor). Trong đó vì giá thành đinhđiện tử đắt và kỹ thuật chưa được hoàn thiện nên chỉ có LON là được sử dụng rộngrãi hơn cả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẪU THUẬT LON (Lengthening Over Nail)

Đúng như tên gọi, kéo dài qua đinh sử dụng kỹ thuật đặt khung cố địnhngoài để kéo trượt xương tách rời dài ra phối hợp với một đinh nội tủy giữ trụccho xương ống. Khi xương đã dài đủ thì người ta tháo khung và chốt ngang hai đầuđinh để giữ đúng chiều dài đó cho đến khi lành xương hoàn toàn. Nhờ vậy mà thờigian mang khung chỉ còn 3 tháng cho 5 - 6 cm kéo dài thay vì 14 - 18 tháng nhưphương pháp Ilizarov truyền thống.

 

 

CÁC BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT LON.

Cho đến nay, phẫu thuật LON được xếp vào loại ít biếnchứng nhất   trong các phẫu thuật xươngkhớp theo báo cáo của nhiều tác giả  đăngtrên tạp chí JBJS (Journal of Bone and Joint Surgery) năm 2004. Tuy nhiên cũngnhư các phẫu thuật khác, LON vẫn có những biến chứng cần phải khắc phục kịp thời

 

Biến chứng sớm:

 

1.. Biến chứng thường gặp:

·       Đau nhức vết thương

Đau nhiều trong  đêm đầu sau mổ khi hết tác dụng của thuốc mê.Để khắc phục điều này, người ta áp dụng kỹ thuật gây tê tủy sống ngoài màng cứngđể phong bế cơn đau 1 - 2 ngày sau mổ. Do phẫu thuật LON chỉ bao gồm 5 sẹo nhỏdài 3 cm nên thường chỉ đau 1- 2 ngày sau mổ.

 

·       Sưng cẳng chân:  

Chảy máu từ vết thương và vịtrí cắt xương sẽ gây sưng cẳng chân. Sưng nhiều sẽ làm căng tức khó chịu chongười bệnh. Nằm nghỉ kê chân cao và chườm lạnh trong vài ngày sau mổ sẽ giúp giảmsưng..

 

·       Nhiễm trùng đường mổ:

Vết thương bị sưng tấy, viêm đỏ.Sốt cao và kéo dài trên 3 ngày. Đó là những dấu hiệu của nhiễm trùng. Vì thếtrước mổ, trong mổ và cả sau mổ người ta sử dụng kháng sinh mạnh qua đường tĩnhmạch để ngăn ngừa nhiễm trùng. Thời gian sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch tốithiểu là 3 ngày. Sau đó có thể sử dụng kháng sinh đường uống cho đến khi lành vếtthương, thường khoảng 7 - 10 ngày.

 

 

·       Viêm chân đinh:

Biểu hiện đau và rỉ dịch quanhcác chân đinh của khung cố định ngoài.. Nếu đau nhiều và kéo dài thì phải tháođinh, xuyên lại đinh khác. Thông thường chỉ cần cần chăm sóc chân đinh đúngcách và uống kháng sinh thì khắc phục được biến chứng này.

 

2. Biến chứng  hiếm gặp:

*   Tổn thương động mạch: thường gặp trong thì mổcắt xương. Nguyên nhân do cấu trúc bất thường của mạch máu. Điều này có thểtránh được nhờ các dụng cụ che chắn và kinh nghiệm phẫu thuật viên trong thaotác phẫu thuật. Biến chứng này rất hiếm gặp và chỉ xảy ra trên các bệnh nhân códị dạng mạch máu.

 

·       Tổn thương thần kinh mác chung, mác sâu: sau mổ có biểuhiện tê mu bàn chân, kẽ ngón 1-2, mất duỗi cổ chân, hay duỗi các ngón. Phần nhiềulà do chèn ép do tăng áp lực khoang. Hầu hết bình phục sau vài tuần hoặc vàitháng. Nguyên nhân hiếm gặp hơn là do kim Kirschner xuyên trúng thì phải rútkim ra, xuyên lại vị trí khác.

·       Can xương mọc chậm: thường gặp ở những người trên 40 tuổi. Trường hợplâu nhất là một bệnh nhân nam 43 tuổi với thời gian tạo can là gần 3 năm.

 

·       Can xương mọc nhanh:

Bình thường can xương sẽ ngấm vôi sau khi ngưng căng dãn khiến khốixương mới cứng và chắc dần dần. Tuy nhiên có một số trường hợp có cầu xương mọcsớm nối liền hai đầu xương ngay sau mổ. Can xương này thường do màng xương tạora. Điều này xảy ra trên  một số cơ địacó phản ứng tạo xương quá mức bình thường. Trường hợp tạo can nhanh nhất là 10ngày sau mổ ở một bệnh nhân nữ 18 tuổi. Nó gây cản trở sự căng dãn xương. Khắcphục bằng cách mổ cắt bỏ cầu xương nối. Phẫu thuật nhẹ nhàng, ít đau, về liềntrong ngày. Sau đó tiếp tục kéo dãn bình thường.

 

Biến chứngmuộn:

·       Co rút gân gót:

Sau mổ, gân gót co rút là phảnxạ tự nhiên của cơ thể giúp giảm áp lực căng cơ khoang sau. Tuy nhiên nếu khôngtiến hành tập sớm thì sẽ gây ra biến chứng bàn chân ngựa vì quá trình kéo dãn sẽgây co rút gân gót nặng hơn. Đây là biến chứng dễ khắc phục bằng cách tập vậtlý trị liệu thụ động hay chủ động. Những trường hợp tập yếu hoặc không hiệu quảthì người ta mổ kéo dài gân gót sau khi tháo khung kéo xương 6 tuần Phẫu thuậtnhẹ nhàng ít đau và không cần nằm viện

·       Hôi chứng rối loạn dinh dưỡng: (hội chứng Volkmann muộn,chèn ép khoang mãn tính)

Do quá trình căng dãn tiến hànhnhanh hơn bình thường khiến các cấu trúc phần mềm bao gồm mạch máu, thần kinh,gân cơ không dãn nở theo kịp gây ra phản ứng co thắt. Nhẹ thì  biểu hiện tê, da ngón chân bị tím, màu da sẫmlại hơn bình thường, mất duỗi ngón chân, cổ chân. Năng hơn thì bị thêm đau nhứcđến mất ngủ. Nặng nhất sẽ gây liệt  hayhoại tử do thiếu máu. Khắc phục bằng cách ngưng kéo dãn, ép khung ngược lại.Nghỉ ngơi, kê chân cao. Phòng tránh bằng cách kéo dãn đúng tốc độ qui định.

·       Sẹo xấu:

Bao gồm sẹo lồi, sẹo to, sẹothâm. Điều trị bằng cách mổ cắt sẹo khâu thẩm mỹ.

·       Viêm khớp gối:

Hiếm gặp và có thể do chăm sócchân đinh gần khớp gối không đúng cách nên bị nhiễm trùng thứ phát.

·       Giới hạn gấp gối:

Thường xảy ra trên những caviêm chân đinh gần khớp gối gây phản ứng đau không tập co gối được.


DAU NHUC DO TU THE NAM NGU

Published on 07:47, 12/01,2009

ĐAU NHỨC DO TƯ THẾ NẰM NGỦ.

BS. HUỲNH  BÁ LĨNH

BV CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH

 

 

Cơ thể con người ví như một cái máy. Giấc ngủ là thời gian cho bộ máy được nghỉ ngơi. Khi ngủ các cơ quan đều hoạt động chậm hẳn lại, chỉ đủ duy trì sự sống ở mức tối thiểu để tiết kiệm năng lượng. Một giấc ngủ được xem là tốt không phụ thuộc thời gian dài hay ngắn mà phải tạo được sự sảng khoái và hồi phục cho cơ thể khi thức dậy. Tuy nhiên không phải lúc nào chúng ta cũng có được một giấc ngủ tốt. Nhiều người sáng dậy bỗng thấy đau nhức mình mẩy, thường gặp là đau bả vai và cứng cổ. Có khi tê hẳn từ vai xuống tận bàn tay, có khi lại đau bên hông sườn. Có người thì than đau lưng, có khi đau chạy dài từ mông xuống đến gót chân. Cá biệt có những cơn tai biến mạch máu não gây liệt bán thân và cũng có khi nhồi máu cơ tim làm tử vong trong khi ngủ.

Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ xin được đề cập đến những cơn đau nhức do tư thế nằm ngủ gây chèn ép cơ bắp hay gân cơ bị căng quá lâu.

1.   Triệu chứng lâm sàng.



Cơn đau nhức xuất hiện sau khi ngủ dậy. Vị trí đau thường gặp là hai bả vai, cánh tay, và cổ. Ít gặp hơn là lưng, hông sườn. Những nơi này là nơi có khối cơ dày. Ví dụ ở vai là cơ thang, cơ delta, cơ cánh tay, gân cơ nhị đầu. Cổ có cơ thang, cơ ức đòn chủm. Hông sườn và lưng có cơ lưng rộng, cơ gian sườn, cơ cạnh sống, cơ răng và cơ dưới gai. Thói quen thường gặp là xoa dầu nóng, thuốc rượu nhưng chỉ có tác dụng nhất thời ngoài da sau đó vẫn tiếp tục đau nhức, có người kéo dài đến vài tháng. Cũng có người dùng vận động liệu pháp làm các động tác xoay vặn nhưng thường kết quả đau nhiều hơn và gây hạn chế cử động nhiều hơn. Nhất là khi đau cổ, có người cố xoay cổ với suy nghĩ sẽ giảm được cơn đau không ngờ gây phản xạ co thắt cơ khiến cổ cứng nhiều hơn.

2.   Cơ chế sinh bệnh.

Các nghiên cứu cho thấy có sự tăng áp lực khoang trong các bắp thịt do nằm ở các tư thế khác nhau như hình vẽ sẽ gây chèn ép các mạch máu. Điều này gây sự cung cấp oxy cho các tế bào cơ kém hẳn đi. Sự chuyển hoá từ hiếu khí chuyển sang yếm khí gây phóng thích acid lactic. Đây là tác nhân gây ra chứng đau nhức sau khi ngủ dậy. Có những trường hợp nặng như uống thuốc ngủ quá liều, bị tai nạn gây vùi lấp kẹt chặt trong đất đá không thể xoay trở tư thế trong một thời gian quá dài. Những nạn nhân này có thể bị hoại tử các cơ bắp chèn ép, từ đó phóng thích các độc tố vào máu gây suy thận dẫn đến tử vong.





Có người sẽ hỏi: Tại sao trước đây cũng ngủ như vậy mà không sao, lần này lại bị đau nhức ?Bởi vì cơ thể có lúc này lúc khác. Vào một thời điểm nào đó cơ thể bị suy yếu như bị stress, mệt mỏi ... làm giảm tốc độ hoạt động của các cơ quan trong đó có hệ tuần hoàn khiến sự lưu thông máu và trao đổi oxy giảm sút. Nay sự chèn ép do tư thế ngủ như một giọt nước làm tràn một ly đầy khiến cơ bắp lâm vào tình trạng thiếu máu quá ngưỡng không thể tự khắc phục như trước đây nữa.

Sự chèn ép cơ bắp có các mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nhẹ thì như vết hằn bầm trên da, tê vùng bị đè ép, nặng hơn là đau nhức, nghiêm trọng là hội chứng chèn ép khoang gây hoại tử chi.

 

Những yếu tố thuận lợi gây ra tình trạng thiếu máu cơ là

Thói quen ngồi trước quạt, máy lạnh.

Đi nắng đầu trần hoặc bị nắng chiếu vào gáy.

Gội đầu và tắm vào ban đêm.

Làm những công việc ít vận động như ngồi bàn giấy, vi tính.

Làm việc ngâm tay chân nhiều trong nước như giặt quần áo, rửa chén...

Cảm cúm hoặc viêm nhiễm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm xoang, viêm phế quản...

Có thêm một số bệnh lý nội khoa khác như thấp khớp, tiểu đường, cao huyết áp,bệnh tim mạch...

Sản phụ trước sanh do bầu cấn làm giảm tuần hoàn đặc biệt là chi dưới do thai chèn ép tĩnh mạch chủ dưới. Sau sanh là do khi đẻ bị mất máu và mệt mỏi do chuyển dạ kéo dài. Cơ thể trở nên dễ nhiễm lạnh, mạch máu co nhỏ lại. Vì vậy mà người ta thường thấy các sản phụ hay than nhức mình, đau lưng, đau tay chân. Sưởi nóng và ủ ấm là biện pháp cần thiết để ngăn ngừa đau nhức.

Hút thuốc lá chủ động hay thụ động cũng là một yếu tố ảnh hưởng lên mạch máu làm cho sự cung cấp máu nuôi kém đi.

3.   Cách điều trị.

Thói quen thông thường của người bệnh là xoa bóp với các loại thuốc dạng nước hay keo như dầu nóng, thuốc rượu, các loại thuốc kem có methylsalicilates, mentol, eugenol hay thuốc dán như Salonpas. Những thuốc này khi bôi lên da có cùng chung một đặc điểm là tạo cảm giác nóng. Nó có thể làm giảm đau nhưng thường sau đó một thời gian ngắn đau trở lại. Có người thấy cứng thì cố gắng làm các động tác vùng đau như xoay cổ, vặn vai, xoay tay...., kết quả thường là đau nhiều hơn và làm cứng nhiều hơn.

Không nên cạo gió vì nó gây xuất huyết trong cơ bắp tạo ra các ổ máu tụ. Đây chính là nguyên nhân khiến sự đau nhức kéo dài nhiều ngày.

Dưới đây là một số biện pháp điều trị triệu chứng theo cơ chế sinh bệnh:

·      Dùng sức nóng ẩm như xông hơi để tạo hiệu quả dãn mạch và dãn cơ. Bên cạnh đó kích thích hô hấp khiến tăng nồng độ oxy trong máu.

·      Thở oxy nồng độ cao cũng có thể giúp giảm đau nhức.

·      Thuốc giảm đau dùng để khống chế cắt cơn đau, không nên dùng kéo dài vì sẽ không hiệu quả mà có nhiều tác dụng phụ (như nhóm NSAID làm đau bao tư ).

·      Một số thuốc dãn cơ có tác dụng cho một số trường hợp co thắt nhưng có thể gây tác dụng phụ.

·      Các loại thuốc thoa chứa methylsalicylate và menthol có thể hiệu quả trong một số trường hợp nhẹ, mới bị. Tác dụng của chúng giống như dầu nóng. Những trường hợp mãn tính hay nặng thì gần như không có tác dụng.

·      Chích tê tại chỗ cũng giúp cắt cơn đau tốt nhưng không nên lạm dụng vì có thể gây phù nề tại chỗ chích.

·      Nghỉ ngơi, hạn chế vận động trong vài ngày là cần thiết để cơ bắp phục hồi.

·      Xoa bóp đúng cách giúp dãn cơ và tăng cường máu đến cơ bắp nhiều hơn có thể giảm đau nhiều nhưng cần lập lại nhiều lần trong vài ngày. Nếu chỉ làm một hai lần thì chưa đủ hiệu quả sẽ đau trở lại hay không hết hoàn toàn.

·      Cung cấp thêm một số khoáng chất và vitamin như Calcium, Kali, vitamin C, vitamin B.

·      Với chi dưới thì cần xét thêm một số thuốc chữa suy tĩnh mạch.

4.   Phòng ngừa

Nguyên tắc lớn nhất là tránh các yếu tố thuận lợi khiến ảnh hưởng lên hệ thống mạch máu trong cơ.

Tập thói quen có tư thế ngủ thoải mái và đúng cách.

Nên thể dục nhẹ nhàng trước ngủ hay xoa bóp, chườm nóng trước khi đi ngủ.



ĐAU CHÂN DO GIÀY DÉP

Published on 09:15, 11/28,2009

ĐAU CHÂN DO GIÀY DÉP

ĐAU CHÂN DO GIÀY DÉP

BÁC SĨ HUỲNH BÁ LĨNH

 

 

Từ lâu trong y học người ta đã biết đến nhiều chứng đau nhức liên quan đến giày dép cũng như nhiều nghiên cứu chế tạo các loại giày dép dùng để chữa bệnh và chỉnh hình cho nhiều dị tật ở bàn chân.

 

 

1. Một số chứng đau nhức do giày dép gây ra

  1. Đau ngón chân: một số giày mũi nhọn và chật có thể tạo ra biến dạng ngón quặp như hình vẽ. Từ đó gây ra các cục chai trên ngón chân khiến khó chịu và đau nhức. Ngoài ra, nó còn gây ra biến dạng ngón cái vẹo ngoài hay ngón út vẹo trong, chồng ngón.

  2. Đau chỏm xương bàn: bề ngang mũi giày hẹp không vừa bàn chân có thể gây ra hội chứng Morton gây tê và đau chỏm xương bàn 3, 4. Thông thường hơn là tạo ra cục chai nằm hai bên chỏm xương bàn 5 (ngón út)) hay ngón 1 (ngón cái). Các cục chai này rất đau và có thể bị loét do sự cọ xát với thành giày liên tục.

  3. Đau gót chân và gan chân: do tình trạng viêm cân gan chân, nhiều bác sĩ hay gọi là gai xương gót, thường gặp ở người có bệnh thấp khớp, hoặc hoạt động mạnh như vận động viên, công nhân khuân vác, làm việc đòi hỏi đứng lâu, đi nhiều như giáo viên, hướng dẫn viên du lịch.... Giày không có đế êm ở gót chân, đế gót quá cao hay quá thấp đều không phù hợp. Biết chọn giày đúng cách sẽ giúp hỗ trợ nhiều cho bàn chân bớt áp lực do công việc đòi hỏi.

  4. Đau cổ chân: thường gặp nhất là do chấn thương lật cổ chân hay trẹo bàn chân. Đa số là bong gân, nghĩa là bị tổn thương dây chằng và bao khớp cổ chân. Nó có thể ở phía bên mắt cá ngoài hay mắt cá trong. Tùy theo mức độ tổn thương mà gây ra đau nhiều hay ít. Thường triệu chứng làm bệnh nhân lo lắng không phải là đau, mà là thấy sưng quanh mắt cá kéo dài sau chấn thươngtrên một tháng vẫn chưa xẹp.

  5. Đau lan từ bàn chân lên vùng gối hay đùi: thường là những cơn đau do hệ thống tĩnh mạch bị suy yếu ( dãn tĩnh mạch) hay gân cơ bị căng kéo lâu ngày. Tình trạng này xảy ra ở những người mang giày dép quá cao hay quá chật kéo dài. Một số người do nghề nghiệp phải ép mình sửa dáng đi, dáng đứng, trang phục không phù hợp với cơ thể cũng có thể gây ra những cơn đau như vậy. Lắm khi được chẩn đoán là viêm thần kinh tọa bởi vì tạo ra bệnh cảnh giống hệt như thế nhưng uống thuốc mãi vẫn không hết.

  6. Hội chứng ống cổ chân: xuất hiện khi có sự chèn ép thần kinh trong ống cổ chân. Nguyên nhân thường gặp là do sự căng quá mức hay kéo dài của các gân cơ nằm trong ống cổ chân, gây ra tình trạng viêm phù nề gân-màng gân các gân cơ nằm chung với sợi thần kinh trong ống cổ tay. Tình trạng này biểu hiện bằng sự đau nhức và tê, dị cảm dưới gan chân. Đau thường lan từ cổ chân đến chỏm xương bàn hay ngón chân. Đau tăng lên khi mang giày, đứng lâu, đi nhiều.

  7. Hội chứng Morton: là một tình trạng đau nhức ngón chân, thường là ngón 2,3,4 do các nhánh thần kinh đi giữa hai xương bàn bị chèn ép, đôi khi có thể hình thành một khối u sợi thần kinh (neuroma). Người bệnh cảm thấy đau nhiều hơn khi mang giày và chỉ rõ được vị trí đau. Có thể phong bế cơn đau bằng Lidocain chích tại chỗ. Tuy nhiên phần lớn cần phải phẫu thuật cắt bỏ u sợi thần kinh hay giải quyết sự chèn ép sợi thần kinh mới hết đau.

 

Như quần áo, giày dép cũng phù hợp cho từng cá nhân. Có những điểm chung cho nhiều người nhưng nhất thiết phải được lựa chọn sao cho phù hợp với cấu trúc của từng cơ thể. Nếu chạy theo thị hiếu mà không lưu ý coí phù hợp với kiểu bàn chân của mình thì đôi giày có thể là sự khó chịu dai dẳng cho người mang chúng.

 

2. Giày thế nào là phù hợp ?

  1. Vật liệu làm giày:

Giày làm ra phải đủ độ cứng để bảo vệ lòng bàn chân vừa phải có độ dẻo để bàn chân có thể cử động linh hoạt không bị giới hạn. Trên thực tế không có loại vật liệu nào đáp ứng hết được vì thế người ta phải chế ra nhiều loại giày khác nhau phù hợp với từng hoạt động của con người trong cuộc sống. Ngày xưa, vật liệu hiếm hoi, người ta làm giày từ các nguyên liệu tự nhiên như bằng rơm, bằng vải, bằng da thú, da súc vật, bằng tre, bằng mây.... Ngày nay giày dép được làm từ vô số vật liệu thiên nhiên và tổng hợp như cao su, chất dẻo hoá học, da động vật, giả da... Tuy nhiên người ta thấy rằng vật liệu tự nhiên ít gây dị ứng hơn vật liệu tổng hợp nhưng giá thành cao hơn vì chúng được làm có tính thủ công.

 

 

  1. Vớ:

Vớ mang chung với giày. Nó giúp bao phủ da chân, tránh tiếp xúc trực tiếp với giày. Nó còn giúp thấm mồ hôi, hạn chế hôi chân và ngứa ngáy. Vì thế người ta ưa chuộng vớ dệt từ cotton hơn là sợi tổng hợp. Ngoài ra vớ còn giúp giữ ấm da chân, tránh trầy sướt da do sự thô nhám mặt trong của giày. Vớ tốt phải có độ co dãn tốt. Vì khi chúng ta hoạt động, máu dồn xuống chân nhiều nhất là những người phải đứng lâu hay ngồi lâu, bàn chân sẽ sưng ra. Sự dãn nở tốt của vớ sẽ giúp tuần hoàn tĩnh mạch lưu chuyển tốt hơn. Điều này rất có ý nghĩa với những người bị suy yếu hay dãn tĩnh mạch chi dưới.

  1. Giày.

Giày phải tương ứng với mỗi lứa tuổi. Trẻ con không phải là người lớn do đó không nên cho chúng mang giày người lớn có kích thước nhỏ. Cơ thể trẻ con phát triển liên tục nên chúng luôn thay đổi, khác với người lớn đã định hình cấu trúc xương khớp. Giày dép không phù hợp có thể ảnh hưởng lên sự phát triển của bàn chân và nặng hơn có thể ảnh hưởng lên cả cột sống và các khớp khác ở chân như gối và háng.

 

Gót giày:

Đế giày gồm hai phần: phần gót và phần mũi. Gót giày càng rộng thì bước đi càng vững chắc. Gót giày càng nhọn thì dáng đi càng lắc lư nhiều. Trọng lượng cơ thể càng lớn thì chân đế của gót giày phải càng rộng. Vì đi giày gót nhọn dễ té nên tuyệt đối không dùng cho trẻ em.

Độ cao của gót giày: người ta nghiên cứu thấy rằng gót giày cao vừa phải sẽ giúp bước chân nhẹ nhàng hơn vì nó làm giảm bớt sức căng của gân gót. Tuy nhiên nếu cao quá thì làm thay đổi trọng tâm của bàn chân, khiến sự cân bằng của các nhóm cơ đối vận bị xáo trộn. Điều này sẽ làm các cơ bắp mau mỏi mệt do phải cố gắng duy trì sự thăng bằng mới cho cơ thể. Thời gian đi giày cao gót kéo dài sẽ dẫn đến cơn đau ở cổ chân và bắp chân. Vì chân đế nhỏ nên giày cao gót dễ bị té nếu đi trên đường gồ ghề hay đi nhanh. Chỉ nên đi giày cao gót khi cần thiết. Trong sinh hoạt và lao động hàng ngày không nên đi giày đế cao hơn 7 cm. Hai chứng bệnh thường gặp do mang giày cao gót là viêm cân gan chân và đau mặt lòng các chỏm xương bàn.

Trẻ nhỏ hơn 8 tuổi : đế bằng.

Trẻ từ 8 - 10 tuổi: không cao quá 2 phân.

Trẻ gái trên 10 tuổi : không cao quá 3 phân rưỡi.

Bé trai không nên cao quá 2 phân rưỡi.

Phụ nữ: từ 3 - 7 cm, trung bình là 5 cm

Đàn ông: từ 2 - 5 cm, trung bình là 3 cm.

Mặt trên tiếp xúc với da đế gót là một bộ phận khá quan trọng. Nó thường phải có độ lõm thích hợp để ôm sát và tránh đế gót bị lắc qua hai bên cấn vào cạnh giày, cạnh dép. Đế êm sẽ giúp da gót dễ chịu nhất là với những người có da đế gót cứng và chai.

Cạnh trong của gót giày làm thấp hơn cạnh ngoài sẽ tạo cảm giác dễ chịu hơn vì giúp giảm áp lực đè lên cạnh ngoài bàn chân.

 

 

Mũi giày:

Mũi giày nhọn sẽ tạo lực ép hai bên cạnh của ngón chân, đặc biệt là ngón cái và ngón út. Nó có thể gây biến dạng ngón cái vẹo ngoài (hallux valgus), ngón út thì vẹo trong, bán trật khớp. Biến dạng này có thể gây ra cục chai do lồi chỏm xương bàn I, V. Nó còn gây chồng ngón kế bên. Cả hai biến chứng này đều có thể gây đau cho người bệnh.

Mũi giày hẹp và ngắn sẽ gây biến dạng ngón quặp (claw toes), nguyên nhân là gân gập bị co rút. Biến chứng là tạo cục chai trên biến dạng gập góc và ngón chân không thể duỗi thẳng ra được.

Mũi giày , không nên quá bằng phẳng mà thường chếch nhẹ lên để giảm áp lực lên đầu các ngón chân.

 

Đế giày:

Tùy theo mục đích của đôi giày mà người ta có những loại đế giày khác nhau. Đây là phần quan trọng nhất về mặt chức năng của chiếc giày.

Lòng bàn chân có cấu trúc hình vòm, cạnh trong cong nhiều hơn và đỉnh vòm cao hơn cạnh ngoài. Vì thế một số giày thể thao người ta lót độn cao vòm trong. Điều này giúp đế giày ôm sát với bàn chân hơn, giúp tăng sức chịu đựng của bàn chân nhiều hơn trong vận động nặng như chạy nhảy, đi nhiều, đứng lâu. Với một số người có kiểu bàn chân bằng (flat foot) bị đau cũng được khuyên mang loại giày có vòm trong cong nhiều để điều chỉnh áp lực giúp giảm đau. Thường đế giày cạnh trong thấp hơn cạnh ngoài một chút sẽ giúp đi vững chắc và ít mỏi hơn

Đế giày cần có một số đặc tính sau:

  • Cứng để bảo vệ gan chân, vì thế một số giày lính, người ta lót sắt dưới đế để tránh vật cứng xuyên thủng.

  • Dẻo để có sự chuyển động nhịp nhàng với bàn chân sẽ giúp đi chắc trên đường trơn trợt hay gồ ghề bởi vì bàn chân bám đường nhờ vào sự bấu chặt của các ngón chân. Do chưa thể làm được như vậy, người ta khắc phục bằng cách tạo bề mặt nhám, làm gai, giác hút cho đế giày để tăng lực ma sát và lực bám dính.

  • Mềm để không tạo sừng hóa da gan chân. Đó là lý do người ta làm lớp trên của đế giày, lớp tiếp xúc với da chân bằng các vật liệu êm và mềm.

  • Không thấm nước: sự ra đời của cao su và các loại chất dẻo tổng hợp là một bước tiến quan trọng trong ngành giày dép vì đặc tính không thấm nước của chúng. Tuy nhiên vì những vật liệu tổng hợp dễ gây dị ứng da nên người ta vẫn ưa chuộng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên hơn. Chính không thấm nước nên nó cũng cản trở sự bốc hơi làm hôi chân và dễ bị nhiễm nấm. Bệnh nấm chân gặp nhiều ở kẽ ngón. Thường gặp ở các vận động viên điền kinh và những người phu khuân vác do làm nặng ra mồ hôi chân nhiều, mang giày liên tục thời gian dài tạo điều kiện thuận lợi cho vi nấm sinh sản.

 

Mui giày:

Đây là bộ phận đắt tiền nhất của chiếc giày vì đẹp hay không là do nó. Yếu tố thẩm mỹ của đôi giày được quyết định bởi mui giày.

Phần mũi của mui giày thường là bộ phận tạo sự thoải mái cho lần đầu thử giày bởi vì mu chân có cảm giác khá nhạy bén. Nên nhớ rằng hai bàn chân thường không giống nhau hoàn toàn, nhất là phần ngón chân và phần eo của bàn chân. Mui giày quyết định cảm giác rộng chật, cảm giác êm ái cho người mang.

Miệng giày là phần phía sau của mui giày. Nó có hai loại: trêh mắt cá và dưới mắt cá. Loại cao giúp bảo vệ cổ chân tốt hơn, ít bị trẹo hơn khi đi trên đường không bằng phẳng. Loại thấp tạo cảm giác dễ chịu vì cổ chân cử động thoải mái hơn, đây là loại thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Miệng giày nên được lót êm để tránh tổn thương da quanh gót và hai mắt cá. Miệng giày chật sẽ cấn vào bó mạch thần kinh mu chân gây đau nhức , khó chịu hay tê rần mu chân.

 

CHỌN GIÀY SAO CHO THÍCH HỢP:

Tùy theo công việc và địa hình di chuyển mà chúng ta lựa chọn loại giày có chức năng phù hợp:

  1. Công việc văn phòng:

Ngồi lâu nên mang giày nhẹ, dễ mang dễ tháo. Đi lại nhiều, lên xuống thang lầu không nên mang giày chật, đế giày có độ bám tốt. Không nên mang giày gót cao và nhọn sẽ dễ bị té trẹo cổ chân. Đế dẻo tốt hơn đế cứng, độ cao từ 3 - 7 cm. Mặt trong giày không có lớp lót êm sẽ gây khó chịu khi mang giày kéo dài.

  1. Lao động ngoài trời hay dã ngoại:

Leo trèo nên mang giày vải, đế dẻo, gót bằng, đế nhám để bàn chân có thể linh hoạt cử động và tăng độ bám.

Địa hình đường dài, gồ ghề nên mang giày đế cứng có độ vòm cạnh trong tốt, gót giày bản rộng. Miệng giày cao trên mắt cá giúp bảo vệ cổ chân. Đế có gai hay giác hút để giúp tăng độ bám dính.

  1. Chơi thể thao:

Mỗi môn thể thao cần một loại giày riêng đặc hiệu, ví dụ giày đá banh, giày điền kinh, giày bóng rổ, giày tennis... Những loại giày này đã được nghiên cứu để cấu trúc phù hợp với vận động của môn thể thao đó. Nó giúp vận động viên nâng cao thành tích thi đấu và bảo vệ khỏi chấn thương.

Đối với người chơi thể thao nghiệp dư, ai cũng xem đây như một thú vui giải trí, thư dãn nên chất lượng đôi giày thường xem nhẹ. Ít ai chú ý mua một đôi giày phù hợp vì đắt tiền. Chính vì thế họ dễ bị chấn thương và đau nhức nhiều hơn vận động viên chuyên nghiệp.

  1. Khiêu vũ dạ hội

Với những vũ công, người mẫu thời trang, diễn viên sân khấu vì nghề nghiệp cần mang giày cao gót . Mang giày cao gót sẽ tạo được dáng đi uyển chuyển và gợi cảm. Để làm giảm đi bất lợi, tốt nhất là không được đi nhanh, đứng lâu. Khi chấm dứt công việc phải có biện pháp bảo dưỡng bàn chân như xoa bóp, ngâm chân nước nóng, vận động liệu pháp.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

Có câu nói xưa "Người đẹp vì lụa". Trang phục giúp con người trang điểm làm đẹp cho cuộc sống. Thế nhưng chính vì chú ý quá nhiều đến yếu tố thẩm mỹ mà ngày nay nhiều người quên mất công dụng của trang phục: che chở và bảo vệ cho cơ thể đối với môi trường bên ngoài. Ở các nước tiên tiến, người ta nghiên cứu chế tạo các loại quần áo và giày dép sao cho người mặc vào cảm thấy thoải mái hơn, dễ chịu hơn trong từng hoàn cảnh sinh hoạt và lao động. Các sản phẩm này ngày càng được người tiêu dùng chú ý nhiều hơn. Riêng với giày dép, những cải tiến theo khuynh hướng này vẫn chưa được các nhà sản xuất quan tâm. Người ta vẫn cứ loay hoay với những mẫu mã, những màu sắc lập đi lập lại. Chính vì thế những sản phẩm giày dép của chúng ta mãi mãi lệ thuộc và theo sau người khác. Như một khẩu hiệu quản cáo của giày Bitis: Nâng niu bàn chân Việt,để tạo một hướng đột phá, cách duy nhất là phải đầu tư nghiên cứu để tạo ra những đôi giày không chỉ đẹp mà còn tạo sự thoải mái, dễ chịu cho đôi bàn chân người mang. Có như vậy chúng ta mới phát huy hết những lợi ích của giày dép mang lại cho con người.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DỰ ÁN Ý TƯỞNG GIÀY SỨC KHỎE

BS. HUỲNH BÁ LĨNH

CHUYÊN KHOA CTCH

 

  1. Khẩu hiệu:

  • Giày free size

  • Giày ngừa cục chai

  • Giày cho người đau gót

  • Giày ngừa thấp khớp

  • Giày cho người tiểu đường

  • Giày chống mồ hôi chân

  • Giày cho người dị ứng da.

  • Giày văn phòng.

  • Giày giúp đứng lâu không đau chân.

  • Giày chống đau gót.

  • Giày cao gót đặc biệt không đau cổ chân

 

 

  1. Một số ví dụ minh họa.

Giày free size

Nghiên cứu loại giày có tính dãn nở sao cho có thể thích hợp cho nhiều người, từ đó giảm số phân loại giày. Ví dụ cho người trưởng thành chỉ còn 3 loại : S - M - L. Sự co dãn của mui giày còn giúp giải quyết vấn đề bình thường hai bàn chân không bằng nhau. Nếu thành công nó sẽ giúp đơn giản hóa dây chuyền sản xuất so với hiện nay.

  1. Giày khoét hổng

Những người thấp khớp thường vào sáng ngủ dậy bước chân xuống giường bị chứng đau giữa đế gót. Đau thốn khó chịu vô cùng. Đa số phải đi khám và điều trị chứng đau này. Cơn đau này đặc biệt đi hay đứng mới đau, nằm nghỉ hay ngồi không đau. Nguyên nhân là khi đi hay đứng sẽ tạo áp lực lên đế gót là nơi bị viêm chỗ bám của cân gan chân vào xương gót. Vì thế mang giày có phần đế gót khoét lỗ hổng giúp vị trí đau giữa gót không bị áp lực đè lên. Viền quanh lót độn êm sẽ đỡ đau bờ viền quanh gót.

Cục chai, mắt cá (soft corn) là sự sừng hóa bất thường của da chân. Nó thường gặp ở những vị trí da chân cọ xát và chịu áp lực bất thường khi đi. Ví dụ như chỏm các xương bàn, búp ngón chân, mặt ngoài của ngón cái hay ngón út, kẽ ngón chân 1 - 2.v.vv... Nó cũng có thể là một dấu hiệu của sự bất thường xương khớp. Nếu mang giày khoét hổng trên vị trí các cục chai hoặc hình lõm để phân đều áp lực sẽ giúp chữa lành cục chai mà không cần phải phẫu thuật hay uống thuốc. Trên thị trường đã có các kiểu dép quai hậu (sandal) có hình lõm các đầu ngón chân là ứng dụng nguyên lý này.

Nếu kết hợp hai yếu tố đau gót và cục chai đầu ngón chân, ta sẽ tạo ra một kiểu mẫu mới là giày dép có các lỗ khoét hổng ở gót và ở phần mũi giày. Sự khoét hổng này còn có tác dụng thoát mồ hôi chân tạo sự thông thoáng da. Như vậy sẽ tránh được mùi hôi chân thường gặp.

Kiểu giày này còn giúp ích cho người bệnh tiểu đường vì làm thoáng chân, giảm bớt cục chai (nguyên nhân gây loét chân).

Giày khoét hổng sẽ giúp giảm áp lực lên gót và đầu ngón chân, vì vậy nó giúp phân bố lại áp lực lên toàn bộ bàn chân. Đó là lý do tạo ra cảm giác êm ái cho người mang giày.

 

Giày có độ nhún ở gót, ở đế giúp tăng sự tuần hoàn máu dưới bàn chân.

 

  1. Ý nghĩa:

Cần phải cho người tiêu dùng có một ý niệm mới trong việc chọn lựa khi mua giày dép. Họ cần được cung cấp thêm một số kiến thức để hiểu được ý nghĩa của những cải tiến trên chiếc giày giúp ích cho sức khoẻ của họ như thế nào. Những chương trình quảng cáo, hội thảo khoa học sẽ giúp dấy lên một phong trào mua sắm mới trong ngành giày dép.

 

 

 

1


 

vvĐAU CHÂN DO GIÀY DÉP

BÁC SĨ HUỲNH BÁ LĨNH

BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TPHCM

 

Từ lâu trong y học người ta đã biết đến nhiều chứng đau nhức liên quan đến giày dép cũng như nhiều nghiên cứu chế tạo các loại giày dép dùng để chữa bệnh và chỉnh hình cho nhiều dị tật ở bàn chân.

 

 

1. Một số chứng đau nhức do giày dép gây ra

  1. Đau ngón chân: một số giày mũi nhọn và chật có thể tạo ra biến dạng ngón quặp như hình vẽ. Từ đó gây ra các cục chai trên ngón chân khiến khó chịu và đau nhức. Ngoài ra, nó còn gây ra biến dạng ngón cái vẹo ngoài hay ngón út vẹo trong, chồng ngón.

  2. Đau chỏm xương bàn: bề ngang mũi giày hẹp không vừa bàn chân có thể gây ra hội chứng Morton gây tê và đau chỏm xương bàn 3, 4. Thông thường hơn là tạo ra cục chai nằm hai bên chỏm xương bàn 5 (ngón út)) hay ngón 1 (ngón cái). Các cục chai này rất đau và có thể bị loét do sự cọ xát với thành giày liên tục.

  3. Đau gót chân và gan chân: do tình trạng viêm cân gan chân, nhiều bác sĩ hay gọi là gai xương gót, thường gặp ở người có bệnh thấp khớp, hoặc hoạt động mạnh như vận động viên, công nhân khuân vác, làm việc đòi hỏi đứng lâu, đi nhiều như giáo viên, hướng dẫn viên du lịch.... Giày không có đế êm ở gót chân, đế gót quá cao hay quá thấp đều không phù hợp. Biết chọn giày đúng cách sẽ giúp hỗ trợ nhiều cho bàn chân bớt áp lực do công việc đòi hỏi.

  4. Đau cổ chân: thường gặp nhất là do chấn thương lật cổ chân hay trẹo bàn chân. Đa số là bong gân, nghĩa là bị tổn thương dây chằng và bao khớp cổ chân. Nó có thể ở phía bên mắt cá ngoài hay mắt cá trong. Tùy theo mức độ tổn thương mà gây ra đau nhiều hay ít. Thường triệu chứng làm bệnh nhân lo lắng không phải là đau, mà là thấy sưng quanh mắt cá kéo dài sau chấn thươngtrên một tháng vẫn chưa xẹp.

  5. Đau lan từ bàn chân lên vùng gối hay đùi: thường là những cơn đau do hệ thống tĩnh mạch bị suy yếu ( dãn tĩnh mạch) hay gân cơ bị căng kéo lâu ngày. Tình trạng này xảy ra ở những người mang giày dép quá cao hay quá chật kéo dài. Một số người do nghề nghiệp phải ép mình sửa dáng đi, dáng đứng, trang phục không phù hợp với cơ thể cũng có thể gây ra những cơn đau như vậy. Lắm khi được chẩn đoán là viêm thần kinh tọa bởi vì tạo ra bệnh cảnh giống hệt như thế nhưng uống thuốc mãi vẫn không hết.

  6. Hội chứng ống cổ chân: xuất hiện khi có sự chèn ép thần kinh trong ống cổ chân. Nguyên nhân thường gặp là do sự căng quá mức hay kéo dài của các gân cơ nằm trong ống cổ chân, gây ra tình trạng viêm phù nề gân-màng gân các gân cơ nằm chung với sợi thần kinh trong ống cổ tay. Tình trạng này biểu hiện bằng sự đau nhức và tê, dị cảm dưới gan chân. Đau thường lan từ cổ chân đến chỏm xương bàn hay ngón chân. Đau tăng lên khi mang giày, đứng lâu, đi nhiều.

  7. Hội chứng Morton: là một tình trạng đau nhức ngón chân, thường là ngón 2,3,4 do các nhánh thần kinh đi giữa hai xương bàn bị chèn ép, đôi khi có thể hình thành một khối u sợi thần kinh (neuroma). Người bệnh cảm thấy đau nhiều hơn khi mang giày và chỉ rõ được vị trí đau. Có thể phong bế cơn đau bằng Lidocain chích tại chỗ. Tuy nhiên phần lớn cần phải phẫu thuật cắt bỏ u sợi thần kinh hay giải quyết sự chèn ép sợi thần kinh mới hết đau.

 

Như quần áo, giày dép cũng phù hợp cho từng cá nhân. Có những điểm chung cho nhiều người nhưng nhất thiết phải được lựa chọn sao cho phù hợp với cấu trúc của từng cơ thể. Nếu chạy theo thị hiếu mà không lưu ý coí phù hợp với kiểu bàn chân của mình thì đôi giày có thể là sự khó chịu dai dẳng cho người mang chúng.

 

2. Giày thế nào là phù hợp ?

  1. Vật liệu làm giày:

Giày làm ra phải đủ độ cứng để bảo vệ lòng bàn chân vừa phải có độ dẻo để bàn chân có thể cử động linh hoạt không bị giới hạn. Trên thực tế không có loại vật liệu nào đáp ứng hết được vì thế người ta phải chế ra nhiều loại giày khác nhau phù hợp với từng hoạt động của con người trong cuộc sống. Ngày xưa, vật liệu hiếm hoi, người ta làm giày từ các nguyên liệu tự nhiên như bằng rơm, bằng vải, bằng da thú, da súc vật, bằng tre, bằng mây.... Ngày nay giày dép được làm từ vô số vật liệu thiên nhiên và tổng hợp như cao su, chất dẻo hoá học, da động vật, giả da... Tuy nhiên người ta thấy rằng vật liệu tự nhiên ít gây dị ứng hơn vật liệu tổng hợp nhưng giá thành cao hơn vì chúng được làm có tính thủ công.

 

 

  1. Vớ:

Vớ mang chung với giày. Nó giúp bao phủ da chân, tránh tiếp xúc trực tiếp với giày. Nó còn giúp thấm mồ hôi, hạn chế hôi chân và ngứa ngáy. Vì thế người ta ưa chuộng vớ dệt từ cotton hơn là sợi tổng hợp. Ngoài ra vớ còn giúp giữ ấm da chân, tránh trầy sướt da do sự thô nhám mặt trong của giày. Vớ tốt phải có độ co dãn tốt. Vì khi chúng ta hoạt động, máu dồn xuống chân nhiều nhất là những người phải đứng lâu hay ngồi lâu, bàn chân sẽ sưng ra. Sự dãn nở tốt của vớ sẽ giúp tuần hoàn tĩnh mạch lưu chuyển tốt hơn. Điều này rất có ý nghĩa với những người bị suy yếu hay dãn tĩnh mạch chi dưới.

  1. Giày.

Giày phải tương ứng với mỗi lứa tuổi. Trẻ con không phải là người lớn do đó không nên cho chúng mang giày người lớn có kích thước nhỏ. Cơ thể trẻ con phát triển liên tục nên chúng luôn thay đổi, khác với người lớn đã định hình cấu trúc xương khớp. Giày dép không phù hợp có thể ảnh hưởng lên sự phát triển của bàn chân và nặng hơn có thể ảnh hưởng lên cả cột sống và các khớp khác ở chân như gối và háng.

 

Gót giày:

Đế giày gồm hai phần: phần gót và phần mũi. Gót giày càng rộng thì bước đi càng vững chắc. Gót giày càng nhọn thì dáng đi càng lắc lư nhiều. Trọng lượng cơ thể càng lớn thì chân đế của gót giày phải càng rộng. Vì đi giày gót nhọn dễ té nên tuyệt đối không dùng cho trẻ em.

Độ cao của gót giày: người ta nghiên cứu thấy rằng gót giày cao vừa phải sẽ giúp bước chân nhẹ nhàng hơn vì nó làm giảm bớt sức căng của gân gót. Tuy nhiên nếu cao quá thì làm thay đổi trọng tâm của bàn chân, khiến sự cân bằng của các nhóm cơ đối vận bị xáo trộn. Điều này sẽ làm các cơ bắp mau mỏi mệt do phải cố gắng duy trì sự thăng bằng mới cho cơ thể. Thời gian đi giày cao gót kéo dài sẽ dẫn đến cơn đau ở cổ chân và bắp chân. Vì chân đế nhỏ nên giày cao gót dễ bị té nếu đi trên đường gồ ghề hay đi nhanh. Chỉ nên đi giày cao gót khi cần thiết. Trong sinh hoạt và lao động hàng ngày không nên đi giày đế cao hơn 7 cm. Hai chứng bệnh thường gặp do mang giày cao gót là viêm cân gan chân và đau mặt lòng các chỏm xương bàn.

Trẻ nhỏ hơn 8 tuổi : đế bằng.

Trẻ từ 8 - 10 tuổi: không cao quá 2 phân.

Trẻ gái trên 10 tuổi : không cao quá 3 phân rưỡi.

Bé trai không nên cao quá 2 phân rưỡi.

Phụ nữ: từ 3 - 7 cm, trung bình là 5 cm

Đàn ông: từ 2 - 5 cm, trung bình là 3 cm.

Mặt trên tiếp xúc với da đế gót là một bộ phận khá quan trọng. Nó thường phải có độ lõm thích hợp để ôm sát và tránh đế gót bị lắc qua hai bên cấn vào cạnh giày, cạnh dép. Đế êm sẽ giúp da gót dễ chịu nhất là với những người có da đế gót cứng và chai.

Cạnh trong của gót giày làm thấp hơn cạnh ngoài sẽ tạo cảm giác dễ chịu hơn vì giúp giảm áp lực đè lên cạnh ngoài bàn chân.

 

 

Mũi giày:

Mũi giày nhọn sẽ tạo lực ép hai bên cạnh của ngón chân, đặc biệt là ngón cái và ngón út. Nó có thể gây biến dạng ngón cái vẹo ngoài (hallux valgus), ngón út thì vẹo trong, bán trật khớp. Biến dạng này có thể gây ra cục chai do lồi chỏm xương bàn I, V. Nó còn gây chồng ngón kế bên. Cả hai biến chứng này đều có thể gây đau cho người bệnh.

Mũi giày hẹp và ngắn sẽ gây biến dạng ngón quặp (claw toes), nguyên nhân là gân gập bị co rút. Biến chứng là tạo cục chai trên biến dạng gập góc và ngón chân không thể duỗi thẳng ra được.

Mũi giày , không nên quá bằng phẳng mà thường chếch nhẹ lên để giảm áp lực lên đầu các ngón chân.

 

Đế giày:

Tùy theo mục đích của đôi giày mà người ta có những loại đế giày khác nhau. Đây là phần quan trọng nhất về mặt chức năng của chiếc giày.

Lòng bàn chân có cấu trúc hình vòm, cạnh trong cong nhiều hơn và đỉnh vòm cao hơn cạnh ngoài. Vì thế một số giày thể thao người ta lót độn cao vòm trong. Điều này giúp đế giày ôm sát với bàn chân hơn, giúp tăng sức chịu đựng của bàn chân nhiều hơn trong vận động nặng như chạy nhảy, đi nhiều, đứng lâu. Với một số người có kiểu bàn chân bằng (flat foot) bị đau cũng được khuyên mang loại giày có vòm trong cong nhiều để điều chỉnh áp lực giúp giảm đau. Thường đế giày cạnh trong thấp hơn cạnh ngoài một chút sẽ giúp đi vững chắc và ít mỏi hơn

Đế giày cần có một số đặc tính sau:

  • Cứng để bảo vệ gan chân, vì thế một số giày lính, người ta lót sắt dưới đế để tránh vật cứng xuyên thủng.

  • Dẻo để có sự chuyển động nhịp nhàng với bàn chân sẽ giúp đi chắc trên đường trơn trợt hay gồ ghề bởi vì bàn chân bám đường nhờ vào sự bấu chặt của các ngón chân. Do chưa thể làm được như vậy, người ta khắc phục bằng cách tạo bề mặt nhám, làm gai, giác hút cho đế giày để tăng lực ma sát và lực bám dính.

  • Mềm để không tạo sừng hóa da gan chân. Đó là lý do người ta làm lớp trên của đế giày, lớp tiếp xúc với da chân bằng các vật liệu êm và mềm.

  • Không thấm nước: sự ra đời của cao su và các loại chất dẻo tổng hợp là một bước tiến quan trọng trong ngành giày dép vì đặc tính không thấm nước của chúng. Tuy nhiên vì những vật liệu tổng hợp dễ gây dị ứng da nên người ta vẫn ưa chuộng sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên hơn. Chính không thấm nước nên nó cũng cản trở sự bốc hơi làm hôi chân và dễ bị nhiễm nấm. Bệnh nấm chân gặp nhiều ở kẽ ngón. Thường gặp ở các vận động viên điền kinh và những người phu khuân vác do làm nặng ra mồ hôi chân nhiều, mang giày liên tục thời gian dài tạo điều kiện thuận lợi cho vi nấm sinh sản.

 

Mui giày:

Đây là bộ phận đắt tiền nhất của chiếc giày vì đẹp hay không là do nó. Yếu tố thẩm mỹ của đôi giày được quyết định bởi mui giày.

Phần mũi của mui giày thường là bộ phận tạo sự thoải mái cho lần đầu thử giày bởi vì mu chân có cảm giác khá nhạy bén. Nên nhớ rằng hai bàn chân thường không giống nhau hoàn toàn, nhất là phần ngón chân và phần eo của bàn chân. Mui giày quyết định cảm giác rộng chật, cảm giác êm ái cho người mang.

Miệng giày là phần phía sau của mui giày. Nó có hai loại: trêh mắt cá và dưới mắt cá. Loại cao giúp bảo vệ cổ chân tốt hơn, ít bị trẹo hơn khi đi trên đường không bằng phẳng. Loại thấp tạo cảm giác dễ chịu vì cổ chân cử động thoải mái hơn, đây là loại thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày. Miệng giày nên được lót êm để tránh tổn thương da quanh gót và hai mắt cá. Miệng giày chật sẽ cấn vào bó mạch thần kinh mu chân gây đau nhức , khó chịu hay tê rần mu chân.

 

CHỌN GIÀY SAO CHO THÍCH HỢP:

Tùy theo công việc và địa hình di chuyển mà chúng ta lựa chọn loại giày có chức năng phù hợp:

  1. Công việc văn phòng:

Ngồi lâu nên mang giày nhẹ, dễ mang dễ tháo. Đi lại nhiều, lên xuống thang lầu không nên mang giày chật, đế giày có độ bám tốt. Không nên mang giày gót cao và nhọn sẽ dễ bị té trẹo cổ chân. Đế dẻo tốt hơn đế cứng, độ cao từ 3 - 7 cm. Mặt trong giày không có lớp lót êm sẽ gây khó chịu khi mang giày kéo dài.

  1. Lao động ngoài trời hay dã ngoại:

Leo trèo nên mang giày vải, đế dẻo, gót bằng, đế nhám để bàn chân có thể linh hoạt cử động và tăng độ bám.

Địa hình đường dài, gồ ghề nên mang giày đế cứng có độ vòm cạnh trong tốt, gót giày bản rộng. Miệng giày cao trên mắt cá giúp bảo vệ cổ chân. Đế có gai hay giác hút để giúp tăng độ bám dính.

  1. Chơi thể thao:

Mỗi môn thể thao cần một loại giày riêng đặc hiệu, ví dụ giày đá banh, giày điền kinh, giày bóng rổ, giày tennis... Những loại giày này đã được nghiên cứu để cấu trúc phù hợp với vận động của môn thể thao đó. Nó giúp vận động viên nâng cao thành tích thi đấu và bảo vệ khỏi chấn thương.

Đối với người chơi thể thao nghiệp dư, ai cũng xem đây như một thú vui giải trí, thư dãn nên chất lượng đôi giày thường xem nhẹ. Ít ai chú ý mua một đôi giày phù hợp vì đắt tiền. Chính vì thế họ dễ bị chấn thương và đau nhức nhiều hơn vận động viên chuyên nghiệp.

  1. Khiêu vũ dạ hội

Với những vũ công, người mẫu thời trang, diễn viên sân khấu vì nghề nghiệp cần mang giày cao gót . Mang giày cao gót sẽ tạo được dáng đi uyển chuyển và gợi cảm. Để làm giảm đi bất lợi, tốt nhất là không được đi nhanh, đứng lâu.


KENNY G

Published on 12:45, 10/07,2009


Bình Luận về Y tế Việt nam

Published on 09:53, 10/06,2009

ĐỜI SỐNG Thứ năm, 1/10/2009, 17:18 Giờ

3 Bình luận cần suy ngẫm!

Chào các độc giả, Tôi viết thư gửi tòa soạn và các bạn với tư cách một chuyên gia về thiết kế tổ chức điều tra, phân tích số liệu, đồng thời là một bác sỹ công tác lâu năm trong ngành y tế. Tôi có thể hiểu được những mong muốn của người bệnh, cũng như những bức xúc không mong muốn khi đi khám chữa bệnh. Tôi chỉ có ba bình luận sau.

Bình luận thứ nhất, xin gửi tới Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Tôi không hiểu ai là người thiết kế cuộc điều tra này, chuyên môn đến đâu, được đào tạo như thế nào.v.v. nhưng tôi thực sự thấy đáng lo ngại là một tổ chức uy tín hàng đầu về mặt khoa học lại có thể công bố kết quả cuộc điều tra trên một cỡ mẫu chỉ có phạm vi 140 người. Theo một điều tra dịch tễ học cộng đồng, muốn kết quả mang tính đại diện phải có giả thuyết nghiên cứu, công thức tính cỡ mẫu, ước lượng sai số... Tôi không muốn nhấn mạnh về chuyên môn, nhưng một cỡ mẫu tối thiểu cũng phải đạt khoảng 400 người trở lên. Vì vậy con số 140 người hoàn toàn không có một chút giá trị nào về mặt thống kê. Thực sự tôi cảm thấy sốc và giật mình khi một tổ chức như hội Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có thể tiến hành và công bố những kết quả điều tra như vậy.

Bình luận thứ hai, xin gửi tới bạn đọc Với tư cách là một bác sỹ nhưng không công tác tại bệnh viện, tôi hoàn toàn không có ý định bênh vực các bác sỹ của ngành, vì bản thân tôi cũng gặp những bức xúc khi đưa người nhà và bản thân đi khám bệnh. Điều tôi muốn nói với các bạn là cần có cách nhìn cởi mở, khách quan và rộng hơn chứ không nên chỉ bó hẹp vào các hiện tượng. Tất cả ai cũng có thể và có quyền chửi bới bác sỹ khi nghe báo chí đưa một thông tin tiêu cực của ngành, nhưng tôi tin chắc nếu người nhà hay các bạn ốm thập tử nhất sinh, ai cũng sẽ trông chờ bác sỹ tràn đầy niềm tin và hi vọng (mặc dù sau khi khỏi bệnh có thể lại chửi các cán bộ y tế ngay lập tức).

Nếu ai đã được đi nước ngoài hoặc chưa đi nhưng đã nghe và đọc, các bạn hãy nhìn rộng hơn và so sánh với các nước khác. Có bao nhiêu nước mà giá khám bệnh rẻ hơn giá một lần trông xe máy như ở Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà người nghèo và trẻ em được cấp thẻ để khám chữa bệnh miễn phí như Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà bác sỹ tuyến trên luân phiên về tuyến dưới công tác như Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà người dân hắt hơi sổ mũi cũng muốn lên bệnh viện Trung ương như Việt Nam? Và còn rất nhiều điều nữa các bạn ạ.

Văn minh như nước Mỹ là thế mà bao nhiêu triệu người khi ốm không có quyền hoặc không dám đến bệnh viện vì không có bảo hiểm y tế, các bạn có biết không?

Bình luận thứ ba, xin gửi tới các cơ quan báo chí. Báo chí có quyền lực và trách nhiệm cần định hướng dư luận, lên án những tiêu cực; ghi nhận đúng đắn và biểu dương những nỗ lực của các tập thể và ban ngành, tránh khoét sâu vào những hiện tượng làm gia tăng mâu thuẫn của các mối quan hệ vốn đã đầy phức tạp trong một xã hội đang chuyển mình như Việt Nam. Vì vậy nếu như không làm tốt đẹp hơn thì báo chí cũng không nên làm xấu đi và trầm trọng hóa mới quan hệ đầy tính nhân văn giữa cán bộ y tế và người dân. Xin trân trọng cám ơn.

( Dr Duong )
nguồn VN EXPRESS


Bình Luận về thực trạng ngành Y tế Việt nam

Published on 09:35, 10/06,2009

3 Bình luận cần suy ngẫm!

Chào các độc giả, Tôi viết thư gửi tòa soạn và các bạn với tư cách một chuyên gia về thiết kế tổ chức điều tra, phân tích số liệu, đồng thời là một bác sỹ công tác lâu năm trong ngành y tế. Tôi có thể hiểu được những mong muốn của người bệnh, cũng như những bức xúc không mong muốn khi đi khám chữa bệnh. Tôi chỉ có ba bình luận sau.

Bình luận thứ nhất, xin gửi tới Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Tôi không hiểu ai là người thiết kế cuộc điều tra này, chuyên môn đến đâu, được đào tạo như thế nào.v.v. nhưng tôi thực sự thấy đáng lo ngại là một tổ chức uy tín hàng đầu về mặt khoa học lại có thể công bố kết quả cuộc điều tra trên một cỡ mẫu chỉ có phạm vi 140 người. Theo một điều tra dịch tễ học cộng đồng, muốn kết quả mang tính đại diện phải có giả thuyết nghiên cứu, công thức tính cỡ mẫu, ước lượng sai số... Tôi không muốn nhấn mạnh về chuyên môn, nhưng một cỡ mẫu tối thiểu cũng phải đạt khoảng 400 người trở lên. Vì vậy con số 140 người hoàn toàn không có một chút giá trị nào về mặt thống kê. Thực sự tôi cảm thấy sốc và giật mình khi một tổ chức như hội Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam có thể tiến hành và công bố những kết quả điều tra như vậy.

Bình luận thứ hai, xin gửi tới bạn đọc Với tư cách là một bác sỹ nhưng không công tác tại bệnh viện, tôi hoàn toàn không có ý định bênh vực các bác sỹ của ngành, vì bản thân tôi cũng gặp những bức xúc khi đưa người nhà và bản thân đi khám bệnh. Điều tôi muốn nói với các bạn là cần có cách nhìn cởi mở, khách quan và rộng hơn chứ không nên chỉ bó hẹp vào các hiện tượng. Tất cả ai cũng có thể và có quyền chửi bới bác sỹ khi nghe báo chí đưa một thông tin tiêu cực của ngành, nhưng tôi tin chắc nếu người nhà hay các bạn ốm thập tử nhất sinh, ai cũng sẽ trông chờ bác sỹ tràn đầy niềm tin và hi vọng (mặc dù sau khi khỏi bệnh có thể lại chửi các cán bộ y tế ngay lập tức).

Nếu ai đã được đi nước ngoài hoặc chưa đi nhưng đã nghe và đọc, các bạn hãy nhìn rộng hơn và so sánh với các nước khác. Có bao nhiêu nước mà giá khám bệnh rẻ hơn giá một lần trông xe máy như ở Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà người nghèo và trẻ em được cấp thẻ để khám chữa bệnh miễn phí như Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà bác sỹ tuyến trên luân phiên về tuyến dưới công tác như Việt Nam? Có bao nhiêu nước mà người dân hắt hơi sổ mũi cũng muốn lên bệnh viện Trung ương như Việt Nam? Và còn rất nhiều điều nữa các bạn ạ.

Văn minh như nước Mỹ là thế mà bao nhiêu triệu người khi ốm không có quyền hoặc không dám đến bệnh viện vì không có bảo hiểm y tế, các bạn có biết không?

Bình luận thứ ba, xin gửi tới các cơ quan báo chí. Báo chí có quyền lực và trách nhiệm cần định hướng dư luận, lên án những tiêu cực; ghi nhận đúng đắn và biểu dương những nỗ lực của các tập thể và ban ngành, tránh khoét sâu vào những hiện tượng làm gia tăng mâu thuẫn của các mối quan hệ vốn đã đầy phức tạp trong một xã hội đang chuyển mình như Việt Nam. Vì vậy nếu như không làm tốt đẹp hơn thì báo chí cũng không nên làm xấu đi và trầm trọng hóa mới quan hệ đầy tính nhân văn giữa cán bộ y tế và người dân. Xin trân trọng cám ơn.

( Dr Duong )
Nguồn từ VN Express


CONCERTO A minor ò Vivaldi

Published on 22:13, 09/22,2009


Champions

Published on 23:23, 09/05,2009


qui trình phẫu thuật kéo dài chi

Published on 12:20, 07/26,2009

QUI TRÌNH PHẪUTHUẬT

A. TRƯỚC MỔ

1. HỒ SƠ BỆNH ÁN

2. CHUẨN BỊ TÂM LÝ BỆNH NHÂN

3. SỬA SOẠN TRƯỚC MỔ

 

B. TRONG PHÒNG MỔ

1.               Bệnh nhân nằmngửa trên bàn xương.

2.               Tê tủy sống hayngoài màng cứng.

3.               Cắt gân trong cơbụng chân.

4.               Dùi và khoan ốngtủy xương chày đến số 9, đo chiều dài đinh nội tủy.

5.               Garrot và cắt gãyngang xương chày vị trí 1/3 trên.

6.               Dùi đinh Sign vàoống tủy xương chày và bắt chốt đầu gần. Xả garrot.

7.               Đặt khung BĐNvòng gồm hai vòng ở hai đầu tận cùng của xương chày.

8.               Cắt gãy xươngmác.

Thực hiện từngchân. Kiểm tra mạch cổ chân sau khi hoàn thành mỗi chân. Thời gian phẫu thuật từ2 - 3 giờ.

C. HẬU PHẪU

1. Thay băng thường chỉ trong 3 ngàyđầu. Chú ý cách quấn gạc quanh chân đinh.

2. Sưng trong 3 - 5 ngày đầu, vì thếcho bệnh nhân nằm kê gối.

3. Tập cử động cổ chân, tập gối, tậpnâng chân thẳng gối trong 3 ngày đầu.

4. Khi bớt đau và sưng, thường làngày thứ tư hậu phẫu có thể cho bệnh nhân tập ngồi, tập đứng, đi ngang và đitới với khung hay hai nạng.

5. Bệnh nhân có thể xuất viện  khi có thể đi được.

D. THEO DÕI CHỈNH KHUNG KÉO DÀI CHÂN

1. Bắt đầu căng dãn khung ở ngày thứ10 - 14 hậu phẫu.

2. Tốc độ: ngày 3 lần, lần ¼vòng  tức là ¾ mm mỗingày.

3. Khi có đau nhức thì ngưng chỉnhvài ngày hết đau nhức rồi căng dãn trở lại.

4. Ngưng chỉnh hoàn toàn khi ngưng tạmthời không thấy giảm đau. Lúc đó có thể phải ép nhẹ trở lại sẽ hết đau nhức.

 

E. PHẪU THUẬT THÁO KHUNG VÀ CHỐT ĐINHNỘI TỦY.

Khi đã đạt đến chiều dài tới hạn,bệnh nhân sẽ được tháo khung và chốt đầu xa của đinh Sign để cố định chiều dàichi vừa đạt được.

1.   Tê tủy sống.

2.   Garrot từng chân.

3.   Sử dụng C-arm đểxác định lỗ đinh theo kỹ thuật free-hand.

4.   Bắt 1 hoặc 2 chốtxa.

5.   Cắt kim, tháokhung BĐN

 

F. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐI LẠI CHO BỆNHNHÂN.

1. Tập cổ chân khắc phục biến chứngco rút gân gót.

2. Tập gối gấp và duỗi.

3. Tập đá tạ nâng sức cơ đùi.

4. Trễ nhất là sau tháo khung 3tháng, bệnh nhân sẽ có thể phục hồi hoàn toàn các hoạt động sinh hoạt và laođộng như trước mổ.

5. Can xương sẽ lấp đầy sau 9 - 12tháng. Lúc đó có thể tháo vis chốt nếu bị cấn đau dưới da. Rút đinh chỉ nênthực hiện khi thật cần thiết, tối thiểu là 18 tháng.

 


Bàn chân Honda

Published on 15:49, 07/06,2009

 

GÓT CHÂN HONDA

BÁC SĨ HUỲNH BÁ LĨNH & CỘNG SỰ

BV CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH TPHCM

BV Đa khoa Vạn Hạnh

TỔNG QUAN

•1.     Ở nước ta, nhất là trong các thành phố lớn, phương tiện di chuyển chính yếu của người dân là xe gắn máy hai bánh. Loại xe thông dụng nhất là của hãng Honda (Nhật bản). Các tai nạn xe máy này tạo ra các tổn thương bàn chân hết sức đặc biệt. Người ngồi trước thường là nam giới, bị gãy hở xương bàn chân trước và luôn kèm theo lóc da mu chân. Người ngồi sau thường là nữ giới, bị lọt gót chân vào căm bánh xe sau gây ra tổn thương vùng mặt sau gót và đế gót.

•2.     Tổn thương này có nhiều mức độ, nhưng thường gặp là lóc dập da mặt sau gót và quanh gót. Cho đến nay, các cơ sở y tế, kể cả các bệnh viện lớn đều xử trí cấp cứu ban đầu là rửa sạch vết thương và khâu da bị rách. Phần lớn sau đó đều bị hoại tử nhiễm trùng và dẫn đến biến chứng mất da làm lộ xương gót và hư gân gót. Điều này có thể làm người bệnh bị tàn phế nặng nếu viêm xương gót hay mất đoạn gân gót, sẹo co rút vùng này.

•3.     Để giải quyết biến chứng mất da mặt sau gót chân, các bệnh viện chuyên khoa thường phẫu thuật xoay vạt da che phủ. Có ba loại vạt da thường dùng là vạt da cơ sinh đôi trong, vạt da Sural, vạt da trên mắt cá ngoài hay vạt da gót ngoài, trường hợp mất cá da đế gót thì đôi khi phải dùng đến vạt da tự do có cuống mạch ghép nối vi phẫu như vạt da cơ lưng rộng. Đây là các phẫu thuật tạo hình đòi hỏi tay nghề chuyên khoa cao, tốn phí điều trị lớn vì thời gian nằm viện kéo dài. Đó là chưa kể các rủi ro trong phẫu thuật như hư vạt da ghép, nhiễm trùng. Nặng nhất là nếu xương gót bị viêm do lộ xương kéo dài hay nhiễm trùng phải mổ cắt bỏ xương gót thì cho đến nay chưa biết lấy gì thay thế ?!

•4.     Tổn thương này ban đầu tưởng chừng đơn giản nhưng khi có biến chứng thì có thể để lại những hậu quả nặng nề. Người bệnh đa số là phụ nữ nên về mặt xã hội gây một ảnh hưởng to lớn trong gia đình khi người bệnh phải lên các trung tâm chuyên khoa điều trị nằm viện một thời gian dài.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định tính chất tổn thương, phân loại và đề ra phương cách xử trí ban đầu tổn thương để có thể làm giảm bớt các biến chứng nặng nề của tổn thương.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.Địa diểm nghiên cứu: Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình TPHCM

2. Thời gian và số lượng bệnh nhân

* Giai đoạn I: tại khoa vi phẫu tạo hình trong 2 tháng từ 01/07/1999 - 31/08/1999 với 16 bệnh nhân.

* Giai đoạn II tại khoa chi dưới trong 2 năm từ 09/ 1999 - 09/2001 với 98 bệnh nhân.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

•1.     Giai đoạn I: nghiên cứu với mẫu nhỏ (16 bệnh nhân) trong thời gian dài vừa đủ điều trị tổn thương (2 tháng). Từ đó đề xuất bảng phân loại, hướng xử trí ban đầu.

•2.     Giai đoạn 2: nghiên cứu với mẫu lớn (98 bệnh nhân) trong thời gian dài hơn (2 năm)  để xác định lại tỉ lệ hiệu quả của cách xử trí mới.

•3.     Định danh:

•·     GÓT CHÂN HONDA (honda heel): là tổn thương vùng gót chân do tai nạn xe gắn máy hai bánh. Gót chân nạn nhân để lọt vào bánh xe đang quay. Đặc điểm của tổn thương là da vùng gót bị lóc dập loang lỗ như tấm da cọp vì căm xe là những thanh sắt nhỏ xoay tròn đánh vào gót chân. Chính vì thế mức độ tổn thương trên bề mặt không đều nhau. Có 3 mức độ về mặt vi thể: không tổn thương, thiếu máu nuôi tạm thời và chết hoàn toàn. Chúng nằm xen kẽ lẫn nhau nên nếu có cách xử trí thích hợp chúng ta có thể cứu sống nhưng vùng da nguy cơ nhưng chưa bị chết, không để các vùng da sống bị thiếu máu nuôi và nhiễm trùng làm chết đi.

•·     DA VÙNG GÓT: (heel skin):

•·     DA QUANH GÓT là phần da ôm quanh xương gót với mốc xương là đỉnh hai mắt cá và chỗ bám gân gót. Phần da này gồm 3 mặt: da mặt sau, da mặt ngoài và da mặt trong.

•·     DA ĐẾ GÓT: là phần da dày nằm dưới xương gót.

•4.     PHÂN LOẠI GÓT CHÂN HONDA và CÁCH  XỬ TRÍ:

Đánh giá mức độ nặng theo chiều cao của diện tích da bị lóc dập và hướng xử trí ban đầu với vết thương.

Độ I: chiều cao vạt da lóc dập nhỏ hơn 1 cm.

Độ II: chiều cao vạt da lóc dập từ 1 cm đến 3 cm.

Độ III: chiều cao vạt da lóc dập từ  3 - 9 cm.

Độ IV: trên 9 cm

 Thì I:

* Làm sạch vết thương bằng cách rửa sạch loại bỏ đất cát bằng dung dịch muối sinh lý nhiều lần. Đắp lại vạt da lóc dập, không khâu kéo các mép da lại với nhau.

* Duy trì độ ẩm vết thương để bảo vệ mô xương, gân bên dưới bằng cách đắp các loại gạc mỡ.

* Cố định tư thế gót chân bằng nẹp bột cẳng bàn chân đặt ở mặt lưng gấp nhẹ cổ chân. Với tư thế này giúp giảm tối đa vấn đề căng vạt da vùng gót .Sự ổn định tư thế giúp cho quá trình tân tạo và sửa chữa mô được tốt.

* Thay băng mỗi ngày để theo dõi vạt da. Cắt lọc các mảnh mô hoại tử đen mỗi ngày tại giường giúp loại bỏ yếu tố nhiễm độc, nhiễm trùng.

* Dùng thuốc kháng đông nhẹ như Aspirin, thuốc dãn mạch như Fonzylane, sưởi đèn, kê chân để tăng cường tối đa sự lưu thông và tưới máu dồi dào cho vùng gót bị thương.

Thì II:

* Sau 7 - 10 ngày mô hạt vun đầy, các đảo da và vạt da đã hồi phục chắc chắn. Lúc này ta sẽ đánh giá và đưa ra xử trí kế tiếp như khâu da, ghép da mỏng hay chờ vết thương tự lành sẹo.

* Với mạng mạch máu phong phú, dồi dào từ hai động mạch lớn là động mạch chày sau và động mạch mác, vết thương sẽ mau chóng hồi phục. Các nhánh tận có đường kính nhỏ nên dễ được tân tạo. Lớp da ở đây mỏng có thể sống được cả bằng sự thẩm thấu, do đó nếu được săn sóc cẩn thận duy trì sự nuôi dường tốt chắc chắn sẽ nhanh chóng hồi phục. Với những mô bị chết do chấn thương chắc chắn hoại tử sẽ được chúng ta loại bỏ dần trong tuần lễ đầu thay băng và theo dõi.

Độ IV: mất toàn bộ da mặt sau gót hay đế gót. Thường là lộ xương gót, gân gót, có thể bị gãy củ sau xương gót. Đa số là sau khi bị lóc dập da do căm xe sau đó còn bị kéo chà lết trên mặt đường khiến vạt da bị rớt ra ngoài. Số còn lại là hoại tử nhiễm trùng sau khâu vết thương.

Cách điều trị duy nhất là cắt lọc sạch mô hoại tử và làm phẫu thuật chuyển vạt da che phủ vùng da bị mất. Hai vạt da thường dùng là vạt da Sural và vạt da gót ngoài, nặng hơn là mất da đế gót thì phải dùng đến vạt da tự do (free skin flap)như vạt da cơ lưng rộng.

KẾT QUẢ

•1.     Đợt I:

Nghiên cứu trên 16 bệnh nhân nhập khoa vi phẫu tạo hình từ 01/07/1999 đến 31/08/1999 với tổn thương gót chân Honda:

•·     Nữ chiếm tỉ lệ 87,5 %

•·     Tổn thương ban đầu: độ I: 12,5 %  Độ II:  25%   Độ III: 50%   Độ IV: 12,5%.

Phương thức điều trị ban đầu:

 Khâu kín: 12 ca   Khâu thưa: 02  Để hở: 2 ca Sau đó toàn bộ độ III và phân nửa độ I, độ II chuyển thành độ IV, người bệnh bị hoại tử mất da nên được cắt lọc và phẫu thuật chuyển vạt da che phủ. Một ca chuyển vạt da cơ lưng rộng có cuống mạch, 8 ca xoay vạt da Sural, 2 ca vạt da gót ngoài chiếm tỉ lệ 81,25%.

Tỉ lệ chuyển độ là 68,75 %.

     *  Thời gian trung bình nằm viện25, 31 ngày.

     2. Đợt  II:

     Nghiên cứu và theo dõi trên 98 bệnh nhân điều trị tại khoa Chi dưới từ 01/09/1999 đến hết 30/09/2001 với hướng xử trí ban đầu để hở vết thương. Các ca được khâu kín ở cơ sở được cắt chỉ ngay và săn sóc vết thương. Mất da nhưng có mô hạt tốt, không bị lộ gân, lộ xương thì được làm phẫu thuật ghép da mỏng, nặng hơn thì xoay vạt da Sural che phủ.

          Tỉ lệ nữ chiếm: 65,30 %

•·     Tỉ lệ tổn thương ban đầu:              

Độ I: 4,08%         Độ II: 38,77%        Độ III: 42,85           Độ IV: 14,28%

•·     Thời gian nằm viện trung bình là:

Độ I: 3,25 ngày   Độ II:  4,89 ngày   Độ III: 7,90 ngày    Độ IV: 31,92 ngày

Tổng hợp lại thời gian nằm viện trung bình là 10 ngày  

•·     Tỉ lệ chuyển độ là : 16%, trong đó nặng là 10,71%

•·     Sau điều trị, số ca phải xoay vạt da Sural là: 9 ca, ghép da mỏng là 5 ca.

Nhận xét:

•·     Phân loại độ tổn thương càng lớn thì thời gian nằm viện càng dài. Thời gian nằm viện của độ IV gấp 10 lần độ I, gấp 6,5 lần độ II và gấp 4 lần độ III.

•·     Thời gian nằm viện trung bình giai đoạn II giảm 60% so với giai đoạn I.

•·     Tỉ lệ chuyển độ giai đoạn II giảm 72% so với giai đoạn I. Nếu chỉ tính những ca xoay vạt da Sural thì tỉ lệ này còn giảm thấp hơn nữa là 85%.

•·     Trong 98 ca chỉ có 9 ca xoay vạt da Sural với tỉ lệ là 9,18%. Trong khi đó ở giai đoạn I tỉ lệ này là 81,25%.

BÀN LUẬN CƠ SỞ LÝ THUYẾT

•1.      Giải phẫu học mạch máu nuôi da vùng gót chân:

•·     Mạng mạch máu nuôi cho vùng gót khá phong phú. Động mạch chày sau cho nhánh là động mạch gót trong tuới máu cho mặt trong của gót và cho các nhánh nhỏ tận cùng ở mặt sau gót. Động mạch mác cho nhánh động mạch gót ngoài nuội vùng da mặt ngoài gót và cho nhánh tận cùng ở mặt sau gót. Đế gót được nuôi bởi các nhánh của động mạch gót ngoài, gót trong và gan chân.

•·     Các mạch máu  đều là các nhánh tận cùng nên có đường kính rất nhỏ, khoảng từ 0.1 mm - 0.5 mmm.

•·     Da vùng gót không có mô mỡ dày đệm dưới da và mô cơ bao phủ quanh xương xương gót. Vì thế da và mạch máu nằm trên một nền cứng là xương gót và lớp cân kém co dãn. Đây là yếu tố làm chúng dễ bị tổn thương khi có lực chấn thương tác động.

•·     Với những đặc điểm nêu trên, chúng ta thấy rằng mạch máu vùng quanh gót rất dễ bị tổn thương, dễ chết nhưng cũng nhanh chóng phục hồi.

•2.     Cơ chế chấn thương:

Gót chân lọt vào căm bánh xe đang quay với tốc độ lớn. Các thanh căm sẽ lần luợt quay và chấn vào da gót những vằn xen kẽ làm lóc dập vạt da ở đây. Như thế tổn thương sẽ không đều nhau trên cùng một vạt da. Chỗ tổn thương, chỗ không. Nơi bị dập mạnh, nơi thì nhẹ. Chính vì thế, chúng tôi tạm gọi là dạng tổn thương da cọp.

Sự tưới máu nuôi ở đây nhanh chóng giảm mạnh vì mạch máu vùng này nhỏ và dễ tổn thương. Do đó vạt da cũng dễ bị hoại tử nếu tình trạng thiếu máu không được cải thiện.

Khâu vết thương sẽ tạo ra các lực căng kéo tại các mép da và lực ép từ nông vào sâu khiến các mạch máu nhỏ bị đè ép làm sự thông máu bị tắc nghẽn. Mô và tế bào bị tổn thương không được cung cấp đầy đủ sự nuôi dưỡng, sẽ bị chết. Sự tưới máu kém cũng là một yếu tố khiến kháng sinh không đưa tới được mô viêm. Từ đó không thể khống chế được tình trạng nhiễm trùng lan rộng. Chính vì thế mà ta thấy đa số các trường hợp khâu kín vết thương tức thời đều bị hoại tử da, nhiễm trùng lan rộng dẫn đến phải cắt bỏ toàn bộ da quanh gót. Từ độ I, độ II chuyển thành độ IV.

•3.     Cơ sở lý luận của phương cách điều trị ban đầu mới:

Chúng tôi đề xuất cách xử trí theo hướng loại bỏ tối đa các yếu tố bất lợi và tăng cường các điều kiện thuạn lợi cho sự tưới máu nuôi dưỡng vạt da lóc dập, giúp các tế bào tổn thương phục hồi, kích thích sự tân tạo các tế bào còn khoẻ mạnh và loại bỏ dần các tế bào đã chết. Thông thường sau 7 - 10 ngày thì chúng ta có thể xác định được mức độ hồi phục của vạt da. Lúc này mới là thời điểm để đánh giá chính xác tổn thương và đưa ra biện pháp điều trị thích hợp.

Kết quả lô nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện tiên lượng rõ rệt. Tỉ lệ bệnh nhân phải mổ xoay vạt da hạ thấp rất nhiều. Điều này có nghĩa sẽ giúp người bệnh giảm tổng chi phí điều trị mà không cần đầu tư thêm trang thiết bị hay chuyên viên giỏi cho bệnh viện.

KẾT LUẬN

Gót chân Honda là một tổn thương đặc trưng của tai nạn giao thông nước ta.

Đây là một tổn thương tưởng chừng rất đơn giản nhưng có thể cho biến chứng nặng nề.

Nạn nhân ít khi bị tổn thương độ IV ngay từ ban đầu mà đa số có tình trạng chuyển độ sau xử trí khâu da thì  đầu ở các cơ sở y tế địa phương. Tổn thương càng nặng thì thời gian nằm viện càng kéo dài.

Với cách xử trí hai thì như chúng tôi đề xuất đã giúp giải quyết hiệu quả hạn chế tỉ lệ biến chứng hoại tử vạt da lóc dập quanh gót của "Gót chân Honda".

KHUYẾN NGHỊ

•1.     Khuyến cáo các công ty sản xuất xe máy cần lắp thêm các bộ phận che chắn hai bên của bánh xe sau để ngăn ngừa gót chân lọt vào.

•2.     Chân mang giày che kín gót sẽ giúp bảo vệ người ngồi sau tránh được tổn thương khi sơ ý lọt gót chân vào căm xe.

•3.     Khuyến cáo và phổ biến cách xử trí vết thương gót chân Honda đến các cơ sở y tế nhằm hạn chế biến chứng hoại tử mất da vùng gót.

•4.     Đường sá lồi lõm khiến xe dằn xóc cũng là một nguyên nhân dẫn đến tai nạn đưa gót vào căm.


thoái hóa khớp

Published on 05:09, 05/19,2009

Osteoarthritis: Current Concepts in Diagnosis and Management

NISHA J. MANEK, M.D., M.R.C.P.
Stanford University Medical Center, Palo Alto, California
NANCY E. LANE, M.D.
University of California, San Francisco, School of Medicine, San Francisco, California

Most patients with osteoarthritis seek medical attention because of pain. The safest initial approach is to use a simple oral analgesic such as acetaminophen (perhaps in conjunction with topical therapy). If pain relief is inadequate, oral nonsteroidal anti-inflammatory drugs or intra-articular injections of hyaluronic acid­like products should be considered. Intra-articular corticosteroid injections may provide short-term pain relief in disease flares. Alleviation of pain does not alter the underlying disease. Attention must also be given to nonpharmacologic measures such as patient education, weight loss and exercise. Relief of pain and restoration of function can be achieved in some patients with early osteoarthritis, particularly if an integrated approach is used. Patients with advanced disease may eventually require surgery, which generally provides excellent results. (Am Fam Physician 2000;61:1795-804.)

Worldwide, osteoarthritis is the most common joint disorder. In western countries, radiographic evidence of this disease is present in the majority of persons by 65 years of age and in about 80 percent of persons more than 75 years of age.1 Approximately 11 percent of persons more than 64 years of age have symptomatic osteoarthritis of the knee.2

With the continued growth of the elderly population in the United States, osteoarthritis is becoming a major medical and financial concern. Appropriate medical management requires that physicians be able to diagnose osteoarthritis early, recognize factors that may affect the prognosis or complicate the disease, and make effective use of the many available treatments.

Pathophysiology

{short description of image}
TABLE 1
Clinical Features of Osteoarthritis

Symptoms
Joint pain
Morning stiffness lasting less than 30 minutes
Joint instability or buckling
Loss of function

Signs
Bony enlargement at affected joints
Limitation of range of motion
Crepitus on motion
Pain with motion
Malalignment and/or joint deformity

Pattern of joint involvement*
Axial: cervical and lumbar spine
Peripheral: distal interphalangeal joint, proximal interphalangeal joint, first carpometacarpal joints, knees, hips


*--Disease with multiple joint involvement is a subtype of osteoarthritis; most commonly, osteoarthritis affects the hands, hips, knees and/or spine.
Information from references 5, 6 and 7.
{short description of image}

Biomechanical and biochemical forces are involved in cartilage destruction, which is at the core of osteoarthritis. Cytokines and growth factors are thought to play a role in the pathophysiology of the disorder. Interleukin-1 and tumor necrosis factor-b may function to activate enzymes involved in proteolytic digestion of cartilage.3 Growth factors such as tissue growth factor-b and insulin growth factor-1 may play a role in the body's attempts to repair cartilage through cartilage synthesis.4

When catabolism exceeds cartilage synthesis, osteoarthritis develops. Collagenolytic enzymes are thought to contribute to the breakdown of cartilage. Collagenase 1 (matrix metalloproteinase-1 [MMP-1]) is a fibroblast collagenase, and collagenase 2 (MMP-8) is a neutrophil collagenase. Collagenase 3 (MMP-13) may be particularly important because of its highly potent collagenolytic activity.3

Clinical Features and Diagnosis

History and Physical Examination
The typical patient with osteoarthritis is middle-aged or elderly and complains of pain in the knee, hip, hand or spine. Most often, the patient has pain and stiffness in and around the affected joint, along with some limitation of function (Table 1).5-7 The symptoms are often insidious in onset.

Pain typically worsens with use of the affected joint and is alleviated with rest. Pain at rest or nocturnal pain is a feature of severe osteoarthritis. Morning stiffness lasting less than 30 minutes is common. (In contrast, morning stiffness in patients with active rheumatoid arthritis lasts longer than 45 minutes.)

Osteoarthritis usually does not affect the wrists, elbows or shoulders. However, a less common subtype of the disease is characterized by multiple joint involvement.

Patients with osteoarthritis of the hip may complain of problems with gait. Pain can vary greatly in site and nature, which sometimes makes early diagnosis difficult. The pain may be felt in the area of the buttock, groin, thigh or knee, and it can vary in character from a dull ache to a sharp, stabbing pain. Hip stiffness is common, particularly after inactivity, and can be a presenting feature. For example, a patient may mention that a stiff hip makes it difficult to put on socks. Early physical signs of osteoarthritis of the hip include restriction of internal rotation and abduction of the affected hip, with pain occurring at the end of the range of motion.

{short description of image}
Osteoarthritis of the hip can present as a dull or sharp pain in the buttock, groin, thigh, knee or hip. The varied nature and site of the pain can make early diagnosis difficult.
{short description of image}

Patients with osteoarthritis of the knee often complain of instability or buckling, especially when they are descending stairs or stepping off curbs. Patients with osteoarthritis of the hands may have problems with manual dexterity, especially if the first carpometacarpal joint is involved.

Involvement of the apophyseal or facet joints of the lower cervical spine may cause neck symptoms, and involvement of the lumbar spine may cause pain in the lower back. Osteophytes of the vertebrae can narrow the foramina and compress nerve roots. As a result, patients may have radicular symptoms, including pain, weakness and numbness of the upper extremities.

The physical examination should include a careful assessment of the affected joints, surrounding soft tissue and bursal areas. Crepitus, which is felt on passive range of motion, is due to the irregularity of opposing cartilage surfaces and is a frequent sign of osteoarthritis of the knee. Periarticular disorders, such as anserine, infrapatellar or prepatellar bursitis, should be ruled out. These disorders can be mistaken for and inappropriately treated as osteoarthritis.

Patients with erosive osteoarthritis may have signs of inflammation in the interphalangeal joints of the hands. This inflammation can be mistaken for rheumatoid arthritis, which causes similar proximal interphalangeal joint swelling. However, osteoarthritis generally does not have an inflammatory component, except in advanced disease. The presence of a hot, erythematous, markedly swollen joint suggests a septic joint or a crystal arthropathy such as gout, pseudogout or hydroxyapatite arthritis.

{short description of image}
TABLE 2
Classification Criteria for Osteoarthritis of the Hip
Traditional format
Hip pain plus at least two of the following:
ESR of less than 20 mm per hour
Femoral or acetabular osteophytes on radiographs
Joint space narrowing on radiographs
Classification-tree format
Hip pain plus femoral or acetabular osteophytes on radiographs
or
Hip pain plus joint space narrowing on radiographs and an ESR of less than 20 mm per hour

ESR = erythrocyte sedimentation rate.
Adapted with permission from Altman R, Alarcon G, Appelrouth D, Bloch D, Borenstein D, Brandt K, et al. The American College of Rheumatology criteria for the classification and reporting of osteoarthritis of the hip. Arthritis Rheum 1991;34:505-14.
{short description of image}
{short description of image}
TABLE 3
Classification Criteria for Idiopathic Osteoarthritis of the Knee
Traditional format
Knee pain plus osteophytes on radiographs and at least one of the following:
Patient age older than 50 years
Morning stiffness lasting 30 minutes or less
Crepitus on motion
Classification-tree format
Knee pain and osteophytes on radiographs
or
Knee pain plus patient age of 40 years or older, morning stiffness lasting 30 minutes or less and crepitus on motion

Adapted with permission from Altman R, Asch E, Bloch D, Bole D, Borenstein K, Brandt K, et al. Development of criteria for the classification and reporting of osteoarthritis. Classification of osteoarthritis of the knee. Arthritis Rheum 1986;29:1039-49.
{short description of image}

Radiographic Features and Laboratory Findings
Radiographs can usually confirm the diagnosis of osteoarthritis, although the findings are nonspecific. The cardinal radiographic features of the disease are a loss of joint space and the presence of new bone formation or osteophytes. The association between joint pain and the radiographic features of osteoarthritis is not constant, in that many joints with pathologic or radiographic evidence of this disease remain asymptomatic. Because bone demineralization is not a radiographic feature of osteoarthritis, its presence strongly suggests an inflammatory condition such as rheumatoid arthritis.

{short description of image}
TABLE 4
Classification Criteria for Osteoarthritis of the Hand
Hand pain, aching or stiffness
plus
Hard tissue enlargement of two or more of 10 selected joints*
plus
Fewer than three swollen metacarpophalangeal joints
plus
Hard tissue enlargement of two or more distal interphalangeal joints
or
Deformity of two or more of 10 selected joints*

*--The 10 selected joints are the second and third distal interphalangeal joints, the second and third proximal interphalangeal joints and the first carpometacarpal joints (of both hands).
Adapted with permission from Altman R, Alarcon G, Appelrouth D, Bloch D, Borenstein K, Brandt K, et al. The American College of Rheumatology criteria for the classification and reporting of osteoarthritis of the hand. Arthritis Rheum 1990;33:1601-10.
{short description of image}

Most routine blood tests are normal in patients with uncomplicated osteoarthritis. Analysis of synovial fluid usually reveals a white blood cell count of less than 2,000 per mm3 (2.0 3 109 per L).

Osteoarthritis secondary to a metabolic, genetic or other joint disorder should be suspected in the patient with widespread disease, a prominent inflammatory component, an unusual joint distribution or disease onset before 50 years of age. If the diagnosis of osteoarthritis is in doubt, consultation with a rheumatologist should be sought.

The American College of Rheumatology (ACR) has developed diagnostic criteria for osteoarthritis at various sites, including the hip (Table 2),5 the knee (Table 3)6 and the hand (Table 4).7

Treatment

Treatment of osteoarthritis should be individualized. Comorbid conditions such as cardiac disease, hypertension, peptic ulcer disease or renal disease must be considered, and the patient's needs and expectations should also be taken into account. An algorithm for the management of osteoarthritis of the knee is presented in Figure 1,8,9 and an algorithm for the management of osteoarthritis of the hip is provided in Figure 2.9,10

Nonpharmacologic Management
Patient Education. Arthritis self-help courses conducted by allied health professionals teach patients how to manage their disease. Participation in such courses has been associated with decreased pain and improved quality of life.8,10-12

Local chapters of the Arthritis Foundation administer self-help courses for patients with osteoarthritis. Educational materials to help patients better understand and cope with osteoarthritis can also be obtained from the Arthritis Foundation (Web site: http://www.arthritis.org/; telephone: 888-879-7890).

Regular patient contact has also been shown to be valuable in the management of osteoarthritis. One study found that monthly telephone communications with patients were cost-effective and were associated with good clinical outcomes.13

Exercise. Patients are often concerned that joint use will "wear out" a damaged joint. However, the available evidence shows that regular low-impact exercise of osteoarthritic joints does not increase the development of osteoarthritis.14,15

The goals of an exercise program are to maintain range of motion, muscle strength and general health. All patients with osteoarthritis of the knee should be taught quadriceps-strengthening exercises and should be encouraged to perform them every day.

Patients may also be referred to aerobic exercise programs such as fitness walking or swimming. Patients with osteoarthritis who participate in an aerobic exercise program have been shown to have improved aerobic capacity and 50-ft walking times, as well as decreased depression and anxiety, compared with patients who only perform range-of-motion exercises.16

{short description of image}
Management of Osteoarthritis of the Knee
Nonpharmacologic treatment (e.g., patient education and support, exercise, weight loss, joint protection)
plus
Acetaminophen (Tylenol) in a dosage of up to 4 g per day to control pain and other symptoms, and before activity

Add topical capsaicin cream (e.g., ArthriCare) applied four times daily, if needed.

If joint effusion is present, consider aspiration and intra-articular injection of a corticosteroid, such as 40 mg of triamcinolone (Aristocort).

If more pain or symptom control is needed, add an NSAID in a low dosage, such as 400 mg of ibuprofen (e.g., Advil) taken four times daily, or a nonacetylated salicylate such as choline magnesium trisalicylate (Trilisate) or salsalate (Disalcid).

If more pain or symptom control is needed, use the full dosage of an NSAID, plus misoprostol (Cytotec) or a proton pump inhibitor if the patient is at risk for upper gastrointestinal tract bleeding or ulcer disease, or substitute a cyclo-oxygenase-2 inhibitor for the NSAID; some patients may benefit from intra-articular injections of a hyaluronic acid­like product.

If the response is inadequate, consider referring the patient for joint lavage, arthroscopic debridement, osteotomy or joint replacement.

{short description of image}
FIGURE 1.An algorithm for the suggested management of osteoarthritis of the knee. (NSAID = nonsteroidal anti-inflammatory drug)
Adapted with permission from Hochberg MC, Altman RD, Brandt KD, Clark BM, Dieppe PA, Griffin MR, et al. Guidelines for the medical management of osteoarthritis. Part II. Osteoarthritis of the knee. American College of Rheumatology. Arthritis Rheum 1995;38:1541-6, and Lane NE, Thompson JM. Management of osteoarthritis in the primary-care setting: an evidence-based approach to treatment. Am J Med 1997;103:25S-30S.

Assistive Devices. Many patients with osteoarthritis of the hip and knee are more comfortable wearing shoes with good shock-absorbing properties or orthoses.

The use of an appropriately selected cane can reduce hip loading by 20 to 30 percent.17 Attention must be given to the length of the cane and how it is to be used. The top of the cane's handle should reach the patient's proximal wrist crease when the patient is standing with arms at the side. The cane is usually held on the unaffected side of the body.

Patients with specific physical disabilities may benefit from physical and occupational therapy. The physical therapist can provide an individualized exercise program and teach the patient how to use therapeutic heat and massage. An occupational therapist can determine whether the patient needs assistive devices such as a raised toilet seat. In addition, special splints can be designed to stabilize or reduce inflammation of particular joints, such as the first carpometacarpal joint or the base of the thumb.

{short description of image}
Management of Osteoarthritis of the Hip
Nonpharmacologic treatment (e.g., patient education and support, exercise, weight loss, joint protection)
plus
Acetaminaphen (Tylenol) in a dosage of up to 4 g per day to control pain and other symptoms

If more pain or symptom control is needed, add an NSAID in a low dosage, such as 400 mg of ibuprofen (e.g., Advil) taken four times daily, or a nonacetylated salicylate such as choline magnesium trisalicylate (Trilisate) or salsalate (Disalcid).

If more pain or symptom control is needed, use the full dosage of an NSAID, plus misoprostol (Cytotec) or a proton pump inhibitor if the patient is at risk for upper gastrointestinal tract bleeding or ulcer disease, or substitute a cyclo-oxygenase-2 inhibitor; some patients may benefit from intra-articular injections of a hyaluronic acid­like product.

If the response is inadequate, consider referring the patient for osteotomy or joint replacement.

{short description of image}
FIGURE 2. An algorithm for the suggested management of osteoarthritis of the hip. (NSAID = nonsteroidal anti-inflammatory drug)
Adapted with permission from Lane NE, Thompson JM. Management of osteoarthritis in the primary-care setting: an evidence-based approach to treatment. Am J Med 1997;103:25S-30S, and Hochberg MC, Altman RD, Brandt KD, Clark BM, Dieppe PA, Griffin MR, et al. Guidelines for the medical management of osteoarthritis. Part I. Osteoarthritis of the hip. American College of Rheumatology. Arthritis Rheum 1995;38:1535-40.

Weight Management. There is a longitudinal association between obesity and osteoarthritis of the knee in men and women, although obesity is a greater risk factor in women.18 Therefore, primary preventive strategies may include measures to avoid weight gain, or to achieve weight loss in overweight patients. It is not clear whether weight loss will improve symptoms in patients who are already experiencing symptoms of osteoarthritis of the knee.19 Further studies are needed to determine if weight loss has a role in the tertiary prevention of osteoarthritis.

Supplements. The lay media and books have widely proclaimed dietary supplements such as glucosamine sulfate and chondroitin sulfate to be "cures" for arthritis. Although small trials conducted in Europe and the United States showed some efficacy for these agents,20,21 the trials were flawed in design and included few patients.

Randomized controlled trials are currently being conducted to determine whether glucosamine sulfate and chondroitin sulfate are safe, tolerated and effective in patients with osteoarthritis. At present, these supplements cannot be recommended for use in the treatment of osteoarthritis.

Pharmacologic Treatments
Simple Analgesics. A large number of medicines are prescribed for and consumed by patients with osteoarthritis, largely for the relief of pain. The recognition that pain in osteoarthritis is not necessarily due to inflammation has led to an increased awareness of the role of simple analgesics in the treatment of this disease.

{short description of image}
Acetaminophen (Tylenol) is considered first-line treatment for most patients with osteoarthritis. Therapy with this simple analgesic can significantly improve function and decrease pain.
{short description of image}

The ACR guidelines emphasize the use of acetaminophen as first-line treatment for osteoarthritis of the hip and knee.8-10 One randomized, double-blind, crossover trial showed that, compared with placebo, acetaminophen in a dosage of 4 g per day significantly relieved pain and improved function in patients with osteoarthritis of the knee.22

Opioid-containing analgesics, including codeine and propoxyphene (Darvon), can be used for short periods to treat exacerbations of pain. These agents are not recommended for prolonged use because they cause constipation and increase the risk of falling, particularly in the elderly.

Nonsteroidal Anti-inflammatory Drugs (NSAIDs). Trials comparing simple analgesics and NSAIDs found that acetaminophen alone can control pain in a substantial number of patients with osteoarthritis.23-25 In patients requiring NSAID therapy, concurrent use of acetaminophen may allow the NSAID dosage to be reduced, thereby limiting toxicity. In the individual patient, cost, dosing frequency and medication tolerance may influence NSAID selection.

{short description of image}
TABLE 5
Risk Factors for Ulcer Complications Induced by Nonsteroidal Anti-inflammatory Drugs

Definite risk factors
Patient older than 65 years of age
Previous ulcer disease or upper gastrointestinal tract bleeding
Use of multiple nonsteroidal anti-inflammatory drugs or use of a high dosage of one of these drugs
Concomitant oral corticosteroid therapy
Concomitant anticoagulant therapy
Duration of therapy (risk is higher in first three months of treatment)

Possible risk factors
Female gender
Smoking
Alcohol consumption
Helicobacter pylori infection


Adapted with permission from Lichtenstein DR, Syngal S, Wolfe MM. Nonsteroidal antiinflammatory drugs and the gastrointestinal tract. The double-edged sword. Arthritis Rheum 1995;38:5-18.
{short description of image}

If an NSAID is to be used, safety is an important issue, especially in the elderly. The risk of NSAID-induced renal and hepatic toxicity is increased in older patients and in patients with preexisting renal or hepatic insufficiency. Thus, it is important to monitor renal and liver function. Nonacetylated salicylates such as choline magnesium trisalicylate (Trilisate) and salsalate (Disalcid) cause less renal toxicity.26

The authors of this article recommend that liver function tests and serum hemoglobin, creatinine and potassium measurements be performed before NSAID therapy is initiated and again after six months of treatment. Several factors appear to increase the risk of NSAID-induced gastropathy (Table 5).27

When used as cotherapy in patients requiring chronic NSAID treatment, misoprostol (Cytotec), a synthetic prostaglandin E1 analog, helps to prevent gastric ulcers.27 Omeprazole (Prilosec), a proton pump inhibitor, appears to be as effective as misoprostol in healing NSAID-induced ulcers and erosions, and it has the advantage of once-daily dosing.28 Histamine-H2 blockers such as ranitidine (Zantac) can prevent duodenal ulcers in patients receiving chronic NSAID therapy; however, ranitidine is ineffective in preventing gastric ulcers.27

The ACR provides no specific guidelines for the prevention and treatment of active ulcer disease and its complications in patients with osteoarthritis who are receiving NSAIDs.10

New Developments. The presently available NSAIDs work through nonspecific inhibition of cyclo-oxygenase isoforms 1 and 2 (COX-1 and COX-2). COX-1 is expressed in gastric and renal tissues (among others), whereas COX-2 is inducible and is part of the inflammatory response.29

Celecoxib (Celebrex) is the first COX-2 inhibitor labeled by the U.S. Food and Drug Administration (FDA) for the treatment of osteoarthritis and rheumatoid arthritis. In a recent study, celecoxib effectively alleviated pain and reduced inflammation but showed no evidence of inducing gastric ulcers or affecting platelet function (two toxic effects associated with COX-1 inhibitors).30 Although the risk of gastrointestinal bleeding is low, physicians should remain vigilant for signs of gastrointestinal bleeding. The most common side effects of celecoxib are dyspepsia, diarrhea and abdominal pain.

{short description of image}
The cyclo-oxygenase-2 inhibitors celecoxib (Celebrex) and rofecoxib (Vioxx) have been labeled for the treatment of osteoarthritis.
{short description of image}

An additional COX-2 inhibitor, rofecoxib (Vioxx), has also been labeled as a once-daily medication for the treatment of osteoarthritis and acute pain. Clinical trials showed that rofecoxib was as effective as ibuprofen and diclofenac and was significantly superior to placebo in the treatment of pain in patients with osteoarthritis.31,32

Local Analgesics. Capsaicin (e.g., ArthriCare), a pepper-plant derivative, has been shown to be better than placebo in relieving the pain of osteoarthritis. One double-blind randomized, controlled trial showed that 0.025 percent capsaicin cream applied four times daily was effective in the management of pain caused by osteoarthritis of the knee, ankle, wrist and shoulder.33 The improvement in pain was measured by visual analog scales.

Another trial found that patients with osteoarthritis or rheumatoid arthritis who were receiving conventional therapy generally experienced substantial diminution of pain following application of capsaicin cream to the affected joint.34 Capsaicin appears to be an important adjunctive treatment for disease flares in osteoarthritis.

Capsaicin cream is available over the counter in concentrations of 0.025, 0.075 and 0.25 percent. One common side effect is a local burning sensation. Patients should be advised to apply capsaicin cream with a glove to prevent inadvertent spread to the eyes or other mucous membranes.

Intra-articular Corticosteroid Injections. Patients with a painful flare of osteoarthritis of the knee may benefit from intra-articular injection of a corticosteroid such as methylprednisolone (Medrol) or triamcinolone (Aristocort).35,36 When a joint is painful and swollen, short-term pain relief can be achieved with aspiration of joint fluid followed by intra-articular injection of a corticosteroid.

A joint should not be injected more than three or four times in one year because of the possibility of cartilage damage from repeated injections. Patients who require more than three or four injections per year to control symptoms are probably candidates for surgical intervention.

Patients with painful osteoarthritis of the hip may benefit from intra-articular corticosteroid injections. These injections should be performed under fluoroscopic guidance.10

Intra-articular Injections of Hyaluronic Acid­Like Products. Hyaluronic acid is a major nonstructural component of the synovial and cartilage extracellular matrix. It confers viscoelastic and lubricating properties to the joint. In patients with osteoarthritis, the concentration and the molecular weight of hyaluronic acid are decreased. Thus, viscosupplementation with hyaluronic acid­like products is thought to be a possible treatment for osteoarthritis.

The FDA has labeled sodium hyaluronate (Hyalgan) and hylan G-F 20 (Synvisc) injections for the treatment of pain caused by osteoarthritis of the knee. One study on intra-articular hyaluronate injections in osteoarthritis of the knee found no difference in pain, function or global evaluation between treatment and placebo groups.37 However, the hyaluronate injections did reduce pain in a subgroup of patients more than 60 years of age who had more severe disease.

Another study found that when used as a replacement or an adjunct for NSAID therapy in patients with osteoarthritis of the knee, hylan G-F 20 injections were at least as effective as continuous NSAID therapy in all outcome measures except activity restriction.38

Surgery
Patients whose symptoms are not adequately controlled with medical therapy and who have moderate to severe pain and functional impairment are candidates for orthopedic surgery. Osteoarthritis of the knee that is complicated by internal derangement may be treated with arthroscopic debridement or joint lavage. Osteotomy may be performed if significant malalignment of the knee or hip joints is present. Total joint arthroplasty usually has an excellent outcome and markedly improves quality of life.39

Future Directions
Most investigational therapies are targeted toward the inhibition of collagenolytic enzymes using, for example, oral doxycycline (Vibramycin) or specific metalloproteinase inhibitors. Other developments include tissue engineering using autologous chondrocytes cultured in vitro and reintroduced into the joint. The clinical applications of these approaches are currently limited to research settings.

Dr. Lane has received grants or research support from Chiron Corporation, Wyeth-Ayerst Laboratories, and Procter and Gamble Pharmaceuticals. She has also been on the speakers bureaus of Merck and Co., Wyeth-Ayerst Laboratories, and Hoechst Marion Roussel.


The Authors

NISHA J. MANEK, M.D., M.R.C.P.,
is a fellow in the immunology and rheumatology division at Stanford University Medical Center, Palo Alto, Calif. Dr. Manek graduated from the Faculty of Medicine at the University of Glasgow, Scotland, and completed a residency in internal medicine at Loma Linda (Calif.) University Medical Center.

NANCY E. LANE, M.D.,
is associate professor of medicine and rheumatology at the University of California, San Francisco, School of Medicine, where she earned her medical degree. Dr. Lane completed a residency in internal medicine at UCSF Mount Zion Medical Center, San Francisco, and a fellowship in rheumatology at Stanford University Medical Center.

Address correspondence to Nancy E. Lane, M.D., Division of Rheumatology, Box 0868, University of California, San Francisco, School of Medicine, San Francisco, CA 94143. Reprints are not available from the authors.

REFERENCES

  1. Lawrence RC, Hochberg MC, Kelsey JL, McDuffie FC, Medsger TA Jr, Felts WR, et al. Estimates of the prevalence of selected arthritic and musculoskeletal diseases in the United States. J Rheumatol 1989;16:427-41.
  2. Felson DT, Zhang Y. An update on the epidemiology of knee and hip osteoarthritis with a view to prevention. Arthritis Rheum 1998;41:1343-55.
  3. Pelletier JP, DiBattista JA, Roughley P, McCollum R, Martel-Pelletier J. Cytokines and inflammation in cartilage degradation. Rheum Dis Clin North Am 1993;19:545-68.
  4. Malemud CJ. The role of growth factors in cartilage metabolism. Rheum Dis Clin North Am 1993; 19:569-80.
  5. Altman R, Alarcon G, Appelrouth D, Bloch D, Borenstein D, Brandt K, et al. The American College of Rheumatology criteria for the classification and reporting of osteoarthritis of the hip. Arthritis Rheum 1991;34:505-14.
  6. Altman R, Asch E, Bloch D, Bole D, Borenstein K, Brandt K, et al. Development of criteria for the classification and reporting of osteoarthritis. Classification of osteoarthritis of the knee. Arthritis Rheum 1986;29:1039-49.
  7. Altman R, Alarcon G, Appelrouth D, Bloch D, Borenstein K, Brandt K, et al. The American College of Rheumatology criteria for the classification and reporting of osteoarthritis of the hand. Arthritis Rheum 1990;33:1601-10.
  8. Hochberg MC, Altman RD, Brandt KD, Clark BM, Dieppe PA, Griffin MR, et al. Guidelines for the medical management of osteoarthritis. Part II. Osteoarthritis of the knee. American College of Rheumatology. Arthritis Rheum 1995;38:1541-6.
  9. Lane NE, Thompson JM. Management of osteoarthritis in the primary-care setting: an evidence-based approach to treatment. Am J Med 1997;103:25S-30S.
  10. Hochberg MC, Altman RD, Brandt KD, Clark BM, Dieppe PA, Griffin MR, et al. Guidelines for the medical management of osteoarthritis. Part I. Osteoarthritis of the hip. American College of Rheumatology. Arthritis Rheum 1995;38:1535-40.
  11. Lorig KR, Mazonson PD, Holman HR. Evidence suggesting that health education for self-management in patients with chronic arthritis has sustained health benefits while reducing health care costs. Arthritis Rheum 1993;36:439-46.
  12. Lorig KR, Lubeck D, Kraines RG, Seleznick M, Holman HR. Outcomes of self-help education for patients with arthritis. Arthritis Rheum 1985;28: 680-5.
  13. Weinberger M, Tierney WM, Cowper PA, Katz BP, Booher PA. Cost-effectiveness of increased telephone contact for patients with osteoarthritis. A randomized, controlled trial. Arthritis Rheum 1993; 36:243-6.
  14. Kovar PA, Allegrante JP, MacKenzie CR, Peterson MG, Gutin B, Charlson ME. Supervised fitness walking in patients with osteoarthritis of the knee. A randomized, controlled trial. Ann Intern Med 1992;116:529-34.
  15. Lane NE. Exercise: a cause of osteoarthritis. J Rheumatol 1995;22(suppl 43):3-6.
  16. Minor MA, Hewett JE, Webel RR, Anderson SK, Kay DR. Efficacy of physical conditioning exercise in patients with rheumatoid arthritis and osteoarthritis. Arthritis Rheum 1989;32:1396-405.
  17. Blount WP. Don't throw away the cane. J Bone Joint Surg [Am] 1956;38:695-8.
  18. Felson DT, Anderson JJ, Naimark A, Walker AM, Meenan RF. Obesity and knee osteoarthritis. The Framingham Study. Ann Intern Med 1988;109:18-24.
  19. Felson DT, Zhang Y, Anthony JM, Naimark A, Anderson JJ. Weight loss reduces the risk for symptomatic knee osteoarthritis in women. The Framingham Study. Ann Intern Med 1992;116:535-9.
  20. Morreale P, Manopulo R, Galati M, Boccanera L, Saponati G, Bocchi L. Comparison of the antiinflammatory efficacy of chondroitin sulfate and diclofenac sodium in patients with knee osteoarthritis. J Rheumatol 1996;23:1385-91.
  21. Müller-Fassbender H, Bach GL, Haase W, Rovati LC, Setnikab I. Glucosamine sulfate compared to ibuprofen in osteoarthritis of the knee. Osteoarthritis Cartilage 1994;2:61-9.
  22. Amadio P, Cummings DM. Evaluation of acetaminophen in the management of osteoarthritis of the knee. Curr Ther Res 1983;34:59-66.
  23. March L, Irwig L, Schwarz J, Simpson J, Chock C, Brooks P. n of 1 trials comparing a non-steroidal anti-inflammatory drug with paracetamol in osteoarthritis. BMJ 1994;309:1041-5.
  24. Williams HJ, Ward JR, Egger MJ, Neuner R, Brooks RH, Clegg DO, et al. Comparison of naproxen and acetaminophen in a two-year study of treatment of osteoarthritis of the knee. Arthritis Rheum 1993;36:1196-206.
  25. Bradley JD, Brandt KD, Katz BP, Kalasinski LA, Ryan SI. Comparison of an anti-inflammatory dose of ibuprofen, an analgesic dose of ibuprofen, and acetaminophen in the treatment of patients with osteoarthritis of the knee. N Engl J Med 1991;325: 87-91.
  26. Furst DE. Are there differences among nonsteroidal antiinflammatory drugs? Comparing acetylated salicylates, nonacetylated salicylates, and nonacetylated nonsteroidal antiinflammatory drugs. Arthritis Rheum 1994;37:1-9.
  27. Lichtenstein DR, Syngal S, Wolfe MM. Nonsteroidal antiinflammatory drugs and the gastrointestinal tract. The double-edged sword. Arthritis Rheum 1995;38:5-18.
  28. Hawkey CJ, Karrasch JA, Szczepanski L, Walker DG, Barkun A, Swannell AJ, et al. Omeprazole compared with misoprostol for ulcers associated with nonsteroidal antiinflammatory drugs. Omeprazole versus Misoprostol for NSAID-Induced Ulcer Management (OMNIUM) Study Group. N Engl J Med 1998;338:727-34.
  29. Lane NE. Pain management in osteoarthritis: the role of COX-2 inhibitors. J Rheumatol 1997;24 (suppl 49):20-4.
  30. Simon LS, Lanza FL, Lipsky PE, Hubbard RC, Talwalker S, Schwartz BD, et al. Preliminary study of the safety and efficacy of SC-58635, a novel cyclooxygenase 2 inhibitor: efficacy and safety in two placebo-controlled trials in osteoarthritis and rheumatoid arthritis, and studies of gastrointestinal and platelet effects. Arthritis Rheum 1998;41: 1591-602.
  31. Scott LJ, Lamb HM. Rofecoxib. Drugs 1999; 58:499-505.
  32. Ehrich EW, Schnitzer TJ, McIlwain H, Levy R, Wolfe F, Weisman M, et al. Effect of specific COX-2 inhibition in osteoarthritis of the knee: a 6 week double blind, placebo controlled pilot study of rofecoxib. J Rheumatol 1999;26:2438-47.
  33. Altman RD, Auen A, Holmburg CE, Pfeifer LM, Sack M, Young GT. Capsaicin cream 0.025% as monotherapy for osteoarthritis: a double-blind study. Semin Arthritis Rheum 1994;23(suppl 3): S25-33.
  34. Deal CL, Schnitzer TJ, Lipstein E, Seibold JR, Stevens RM, Levy MD, et al. Treatment of arthritis with topical capsaicin: a double-blind trial. Clin Ther 1991;13:383-95.
  35. Freidman DM, Moore ME. The efficacy of intraarticular steroids in osteoarthritis: a double-blind study. J Rheumatol 1980;7:850-6.
  36. Dieppe PA, Sathapatayavongs B, Jones HE, Bacon PA, Ring EF. Intra-articular steroids in osteoarthritis. Rheumatol Rehabil 1980;19:212-7.
  37. Lohmander LS, Dalen N, Englund G, Hamalainen M, Jensen EM, Karlsson K, et al. Intra-articular hyaluronan injections in the treatment of osteoarthritis of the knee: a randomised, double blind, placebo controlled multicentre trial. Hyaluronan Multicentre Trial Group. Ann Rheum Dis 1996;55:424-31.
  38. Adams ME, Atkinson MH, Lussier AJ, Schulz JI, Siminovitch KA, Wade JP, et al. The role of viscosupplementation with hylan G-F 20 (Synvisc) in the treatment of osteoarthritis of the knee: a Canadian multicenter trial comparing hylan G-F 20 alone, hylan G-F 20 with non-steroidal anti-inflammatory drugs (NSAIDs) and NSAIDs alone. Osteoarthritis & Cartilage 1995;3:213-25.
  39. Buckwalter JA, Lohmander S. Operative treatment of osteoarthritis. Current practice and future development. J Bone Joint Surg [Am] 1994;76:1405-18.

Copyright © 2000 by the American Academy of Family Physicians.
This content is owned by the AAFP. A person viewing it online may make one printout of the material and may use that printout only for his or her personal, non-commercial reference. This material may not otherwise be downloaded, copied, printed, stored, transmitted or reproduced in any medium, whether now known or later invented, except as authorized in writing by the AAFP. Contact afpserv@aafp.org for copyright questions and/or permission requests.


CỐ ĐỊNH XƯƠNG KHỚP

Published on 05:18, 04/23,2009

CỐ ĐỊNH CHẤN THƯƠNG XƯƠNG KHỚP

BS HUỲNH BÁ LĨNH

 

 

1. Phân loại chấn thương xương khớp ( Bone & Joint Trauma Classification)

Có 3 dạng chấn thương chính:

* GÃY XƯƠNG: (Fracture)

* TRẬT KHỚP: (Dislocation)

* BONG GÂN: (Sprain)

 

2. Tại sao cần cố định tổn thương ? (Why do we need to have the immobilization?)

- Sự va chạm các mảnh gãy sẽ gây đau --> shock thần kinh + xuất huyết --> shock mất máu.

- Ổ trật di lệch gây chèn ép thêm các mạch nuôi dẫn đến phù nề, chèn ép TK, mạch máu có thể dẫn đến hoại tử chi.

Cố định ổ gãy sẽ giúp giảm đau và chảy máu cho bệnh nhân.

- Quá trình lành sẹo chỉ tiến triển tốt nhất khi mô tổn thương được cố định ở vị trí giải phẫu học một cách liên tục.

Cố định ổ gãy sẽ giúp lành tổn thương.

Đó cũng là mục tiêu của cố định (immobilizaton)

3. Nguyên tắc cố định (Immobilization Principles)

* Vững chắc: - cố định qua hai khớp

                     - chống xoay

* Liên tục:

* Sinh học: - sự cố định phải đảm bào sự cung cấp máu đến vùng tổn thương đầy đủ.

                  - sự cố định không ảnh hưởng đến sự hoạt động của các cơ quan khác xung quanh.

 

4. Các hình thức cố định:

a.Theo thời gian sử dụng

* Cố định tạm: (temporary): nẹp bột - nẹp vải - nẹp thun - khung kéo

* Cố định lâu dài (prolonged): bó bột - nẹp vis - đinh nội tủy - cố định ngoài

b.Theo vị trí đặt trên cơ thể:

* Bên trong cơ thể: cố định trong như nẹp vis - đinh nội tủy -ốc vis - kim chỉ thép

* Bên ngoài cơ thể: như khung cố định ngoài, khung kéo tạ, các loại nẹp vải, nẹp bột, nẹp nhựa...

 

5. Các loại nẹp thường dùng:

a* Cột sống:

Vùng cổ

Chấn thương phần mềm: nẹp cổ mềm

Chấn thương cột sống: nẹp cổ cứng, hallo-vest

Gãy xương sườn: băng keo dán từ xương ức đến cột sống ngực

Vùng lưng: nẹp đai lưng

 

 

b* Chi trên

·       Gãy xương đòn:  đai số 8

·       Gãy xương cánh tay: đai Deseault

·       Vùng khuỷu: nẹp vải cánh bàn tay hay đai Deseault

·       Gãy 2 xương cẳng tay: nẹp vải cánh bàn tay

·       Gãy đầu dưới xương quay: nẹp vải cẳng bàn tay

·       Gãy xương bàn của bàn tay: nẹp vải cẳng bàn tay, ôm ngón gãy

·       Gãy xương ngón tay: nẹp Iselin (nẹp nhôm)

 

c* Chi dưới:

·       Gãy xương vùng háng: nẹp chống xoay

·       Gãy thân xưong đùi: nẹp đùi cổ chân có que chống xoay.

·       Gãy xương vùng gối: nẹp vải đùi cổ chân (nẹp Zimmer)

·       Gãy 2 xương cẳng chân: nẹp đùi bàn chân có que chống xoay

·       Gãy xương cổ chân- bàn chân: nẹp vải cẳng bàn chân

·       Bong gân cổ chân: nẹp hơi cổ chân (air-cast).



--
Huynh Ba Linh,MD


ĐAU GÓT, CÓ PHẢI GAI XƯƠNG GÓT ????

Published on 07:07, 03/22,2009

 

ĐAU GÓT CHÂN

BS. HUỲNH BÁ LĨNH          

BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH

TP HỒ CHÍ MINH

Đau gót chân là một chứng đau nhức thường gặp ở người phụ nữ, nhất là tuổi trung niên. Thỉnh thoảng có thể gặp ở đàn ông hoặc ở người trẻ tuổi nhưng thường do yếu tố chấn thương do vận động không phù hợp gây ra.

Nguyên nhân thường gặp nhất của đau gót chân là viêm cân gan chân.

  • 1. Viêm cân gan chân:

Căn bệnh này xuất hiện tự nhiên. Sáng sớm ngủ dậy, người bệnh bước chân xuống giường thấy đau thốn dưới gót như bị kim đâm. Sau đó đi vài bước hoặc vận động một lúc thì thấy hết đau. Tuy nhiên cũng có người đau suốt cả ngày, cứ ngồi nghỉ một lúc đứng dậy là có cảm giác thốn khó chịu dưới gót.  Nếu lấy ngón tay ấn dưới đế gót lệch nhẹ vào trong sẽ có cảm giác đau thốn. Khi đi chụp phim X quang nhiều người thấy có hình ảnh một chồi xương nhọn ở dưới xương gót, bác sĩ chẩn đoán là gai xương gót, phù hợp với cảm giác kim đâm dưới gót. Tất cả những điều này cộng lại tạo ra một ám ảnh đối với người bệnh trong cơ thể mình, dưới gót chân có một cái gai. Sự lo lắng tăng dần khi uống thuốc không thấy giảm. Vì thế có nhiều người bệnh khi gặp bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình cứ nằng nặc xin mổ cắt bỏ gai xương gót dù trong lòng còn nhiều ngổn ngang.

Thật ra như tên gọi, viêm cân gan chân (plantar fasciitis) là một chứng viêm của cân gan chân. cân gan chân là một dãi gân xơ bám từ xương gót đến các chỏm xương bàn. Nó có tác dụng duy trì độ cong sinh lý của bàn chân, khiến cho bàn chân có được độ nhún.  Nó làm giảm nhẹ  lực đè ép lên bàn chân khi vận động. Vì nó nằm giữa hai mặt phẳng cứng là xương gót và mặt đất. Chính vì thế những người thường xuyên đi, đứng, chạy nhảy nhiều, nhất là mang chân không, hay giày dép đế cứng, sẽ dễ bị tổn thương. Riêng ở phụ nữ trung niên, viêm cân gan chân thường gặp ở những người có tiền sử bệnh viêm khớp dạng thấp, mang giày gót cao và nhọn, hoặc dép bằng, ít vận động thể dục thể thao hoặc vận động nhiều quá mức. Tất cả những yếu tố đó làm dãi gân xơ mất dần đi sự co dãn mềm dẻo bình thường mà trở nên chai cứng, có khi còn ngấm đọng chất vôi gọi là viêm gân cốt hóa. Điều này giải thích cho những hình ảnh X quang có những chồi xương gót dài và nhọn. Tuy nhiên có những người chụp phim X quang có chồi xương gót nhưng họ hoàn toàn không hề đau gót. Điều này chứng tỏ gai xương không phải là nguyên nhân gây đau gót cho người bệnh.

ĐIỀU TRỊ:

Để chữa trị có hiệu quả, người bệnh cần phải loại bỏ những yếu tố thuộn lợi cho chứng bệnh viêm cân gan chân đã nêu ở trên.

Điều trị gồm hai giai đoạn: cắt cơn và phòng ngừa.

Cắt cơn đau gót:

  • Thuốc giảm đau: kháng viêm NSAID, Paracetamol.v..v..
  • Vật lý trị liệu: ngâm chân nước nóng, xoa bóp gan chân-gót chân.
  • Nẹp hoặc bó bột một htời gian ngắn giúp tránh tiếp xúc gót chân và bất động gân viêm.

Phòng ngừa:

  • Loại bỏ các yếu tố thuận lợi như giày dép thích hợp khi vận động, sinh hoạt và lao động để tránh tổn thương cân gan chân; điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp.
  • Luyện tập tăng cường độ dẻo dai của cân gan chân như tập đứng nhón gót, nhảy dây, xoa bóp gan chân.
  • 2. Viêm chỗ bám xương của gân gót:

Cũng là đau gót nhưng là đau phía trên. Đây là vị trí gân gót bámvào củ sau của x.gót. Người bệnh cảm thấy đau nhức quanh gót chân. đau cứng bắp chân, lan lên gối. Đau nhiều khi gấp lưng bàn chân làm căng gân gót. Nguyên nhân chủ yếu là chấn thương do quá tải vận động. Thường gặp ở phụ nữ trung niên có bệnh thấp khớp, trước đây nghề nghiệp ít vận động, nay tập đi bộ , chơi tennis hoặc cầu lông gắng sức quá mức chịu đựng của cơ thể.

Có một số trường hợp bị viêm gân cốt hóa hoặc bị đứt gân gót trong khi chơi thể thao do độ co giãn kém của gân gót.

ĐIỀU TRỊ:

Tốt nhất là cần phải điều chỉnh mức độ và kỹ thuật tập luyện cho thật phù hợp với từng cơ địa.

Cắt cơn đau:

  • Nghỉ ngơi, chườm lạnh
  • Thuốc giảm đau: NSAID, Paracetamol...
  • Xoa bóp với các loại thuốc kem dạng mát như Voltaren, Fastum, Profenid ...
  • 3. Gãy mỏi:

Những chấn động không mạnh nhưng lập đi lập lại nhiều lần trên nền xương yếu (loãng xương, thấp khớp, suy tĩnh mạch chi dưới...) có thể làm rạn vỡ cấu trúc vi thể của xương gót. Điều này gây đau nhức gót chân. Tuy nhiên không tìm thấy một điểm đau đặc hiệu ở vùng gót. Thường người bệnh cảm thấy đau hai bên gót, phía dưới mắt ca. Chỉ trên X quang mới phát hiện được dấu hiệu gãy mỏi với những đường gãy mờ cùng với lớp can xương mới đậm xung quanh. Vỏ xương gót mỏng cùng với mật độ xương kém cho thấy rõ hình ảnh loãng xương.

ĐIỀU TRỊ:

Người bệnh cần phải nghỉ ngơi, hạn chế đi lại, tập vận động tại cho. Thuốc giảm đau thường không cần thiết. Tuy nhiên cần điều trị tích cực bệnh loãng xương để ngăn ngừa tái phát.

  • 4. Suy tĩnh mạch chi dưới:

Một số trường hợp suy tĩnh mạch chi dưới có biến chứng viêm tắc cũng có thể bị đau gót chân nhưng thường kèm theo sưng quanh mắt cá. Ấn đau dọc theo đường đi của các tĩnh mạch hiển lớn hay hiển bé. Thường kèm theo triệu chứng đau bắp chân, lan lên gối. Nhìn mu chân thấy các tĩnh mạch nông dãn  mgoằn ngoèo dưới da. Vì hệ mạch máu trong xương gót thuộc hệ tĩnh mạch nên khi có viêm tắc, sự ứ nghẽn sẽ làm tăng áp lực máu trong xương gót gây căng tức. Bệnh nhân cảm thấy đau trong xương gót là do nguyên nhân này.

ĐIỀU TRỊ:

  • Nằm nghỉ kê chân cao, hạn chế đi lại trong vài ngày.
  • Uống thuốc chống viêm tắc mạch như aspirin, streptokinase, kháng viêm NSAID như diclofenac...
  • Uống thuốc điều trị suy tĩnh mạch như Daflon, Gingkofort...


BIẾN CHỨNG CỦA KÉO DÀI CHI

Published on 09:13, 03/19,2009

CLINICAL ORTHOPAEDICS AND RELATED RESEARCH
Number 301, pp. 10-18
Copyright 1994 J. B. Lippincott Company


Complications of Limb Lengthening

A Learning Curve


MARK T. DAHL, M.D.,* BENJAMIN GULLI, M.D.,** AND TROY BERG, M.D.**


Major complication rates during limb lengthening were plotted in a consecutive series to produce a learning curve. All unwanted events during and after treatment were considered complications, and graded as minor, serious, and severe. All serious and severe complications were considered major. A novel system was used to classify the preoperative severity of each deformity. One-hundred ten patients had 140 bone segments lengthened between 2.2 cm and 10.5 cm, with a mean of 4.4 cm. Three methods were used in lengthening: the Wagner method in 22 patients, the DeBastiani method in 34 patients, and the 11izarov method in 84 patients. Ninety-eight complications categorized as serious or severe occurred, for a total major complication rate of 72%. The percentage of major complications began to drop after 30 lengthenings to a current rate of 25%. Major complications were frequent in patients with more severe deformities, particularly in those whose cases occurred early in the series. Bone healing complications were high (72%) in the Wagner segments but were also high (80%) in the first ten patients treated with the DeBastiani technique. The first ten llizarov patients, who were treated later in the series, had a 40% rate of bone-healing complications. The current rate of major complications is 13% for those patients treated with DeBastiani's method and 33% for those patients treated with llizarov's method. This difference in complication rates appears to relate to the severity of the deformity, rather than the device used. There was a significant decrease in complications as experience was gained. Directed formal study and surgical instruction should help diminish these complications.


*From Limb Length Clinics Gillette Children~s Hospital, ST Paul, Minnesota, Fairview Riverside Medical Center, Minneapolis, Minnesota, and Shriners Hospital for Crippled Children, Minneapolis, Minnesota.

** University of Minnesota, Hospitals and Clinics, Minneapolis.

Address reprint requests to Mark T Dahl, M.D., Limb Length Clinic. Gillette Childrenís Hospital, 200 E university Ave., St. Paul, MN 55101.



Distraction osteogenesis has improved the ability to treat complex deformities by reducing the need for secondary bone grafts, decreasing the rate of late fracture, and combining the correction of multiple deformities in one treatment. (1,3,5,6) Soft-tissue complications and, to a lesser extent, bone problems continue to be prevalent in clinical reports of limb lengthening. The actual process of limb lengthening is very complex and has one of the highest complication rates of any orthopaedic procedure.(3,8,10)

The complication rate in limb-length surgery can vary considerably between investigators. DeBastiani et al.(3) report complications in 14% of their patients with lengthening, while Wagner(10) denotes 45% and Ilizarov 5%.(5) Mosley and Mosca (7) included all complications, no matter how minor, in their study of Wagner leg lengthenings. In 63 lengthenings, 142 complications were reported, for a rate of 225%. This variation in percentages is attributable to differences in techniques of lengthening, surgical experience, severity of deformity treated, and definition of complications.

To provide a frame of reference, the authors first reviewed the severity and frequency of complications in limb lengthenings as they related to the surgeon's experience, technique used, and severity of deformity. They set out to answer three questions: (1) How does a surgeon's complication rate change with experience? (2) How many cases were performed before complication rates diminished? (3) To what extent does the severity of a deformity influence the complication rate?

A composite learning curve and a deformity severity classification scheme are presented. The authors will discuss conclusions and recommendations to improve the learning curve for other surgeons before they consider caring for these complex limb deformities.


MATERIALS AND METHODS

A retrospective study and radiographic review were performed on 140 consecutive limb-lengthening cases. Data were obtained from the clinics of the senior author. All lengthening patients with greater than one year of follow-up time were included. Deformity corrections without lengthenings were excluded.

SURGICAL TECHNIQUES

The authors used lengthening methods originally described by Wagner, (10) DeBastiani et al., (3) and llizarov. (5,6) Lengthening began three to five days after the corticotomy in children, and five to seven days in adults. The Wagner technique was used in 22 patients. This technique uses a half-pin external fixation device (monolateral frame) on the intact bone that is to be lengthened. An open osteotomy is performed with immediate distraction of approximately 1.5 mm. The bone is lengthened 1.5 mm per day in graduated stages. At the completion of the distraction, the osteotomy is internally fixed with a special lengthening plate, and the lengthening gap is filled with autologous, cancellous bone. The patient is protected from full weight bearing for an extended period, allowing the bone to heal by creeping substitution. After a long period of delay (often one to three years), and when radiographic evidence of recanalization of the bone has occurred, the bone plate is removed.

The DeBastiani technique, used in 34 cases, involves applying a dynamic monolateral external fixator. An open drill-corticotomy through metaphyseal bone is performed, followed by a delay of seven to 14 days before lengthening begins. The bone segment is lengthened 1 mm per day, in four increments of one-quarter millimeter. During the lengthening phase, functional use of the limb is encouraged. The rate of lengthening is altered according to the extent of bone formation. After completion of the lengthening, the fixator is held in a neutral phase before a subsequent dynamization is performed, to allow maturation of the regenerate site. Fixators are removed on an outpatient basis after thorough corticalization is evident.

The llizarov method, applied in 84 cases, is a multiplanar system that uses circular external fixation with tensioned wires or a combination of half-pins. These fixators provide for multilevel, multiapical, and juxtaarticular corrections. Postoperative management features are similar to DeBastiani's method.

It should be understood that the method of tissue regeneration, either bone grafting or distraction osteogenesis, is not exclusive to a device, as many surgeons use different devices to achieve the same result. Methods using distraction histogenesis (i.e., llizarov and DeBastiani) have met great enthusiasm; however, frequent pitfalls exist that can cause enormous problems for patients and families. Careful preoperative planning, preassembly of the external fixator, and diligent postoperative care are required for success with any technique.

DATA ANALYSIS


For the primary analysis, the following data were recorded for all patients: age; gender; segment lengthened; length discrepancy; preoperative segment length; length achieved; mechanical axis deviation greater than 5i; etiology of deformity; hospital stay; length of time in the fixator; length of follow-up; and all complications. Measurements of length and angular deformity were made from scanograms and standing radiographs. Each case was retained in chronologic order and was also categorized by technique.


COMPLICATION CLASSIFICATION

Any unwanted event was considered a complication (Table 1). The severity of a complication was assigned a grade of minor (I), serious (II), or severe (III). Serious and severe complications were considered major because of their associated morbidity. Minor complications did not affect outcome or require extensive intervention; therefore, although they are important, they will not be emphasized in this paper. Complications that were either major and temporary, or minor and permanent, were considered to be serious. Severe complications are those that require major unplanned surgery or result in major permanent sequelae.


DEFORMITY CLASSIFICATION

A deformity severity scale was developed to correlate complication rates with the complexity of the condition. The severity of the deformity was rated according to the initial length discrepancy: Type I, < 15%; and Type 2, 16-25%; Type 3, 26-35%; Type 4, 36-50%; and Type 5, >50%. The severity type increased one level if three lesser risk factors, or two greater risk factors, were present in addition to the discrepancy (Table 2). Lesser risk factors add to the complexity of treatment but, with proper planning, usually do not compromise the end result. Greater risk factors significantly alter treatment plans, and can seriously compromise the end results (Figs. IA-IE).

TABLE 1. Complication Classification

Complication
Minor (I)
Serious (II)
Severe (III)
Pin-site problemsMinor infectionsRing sequestrum 
InfectionSuperficial WoundDeep WoundOsteomyelitis
Vascular  Vascular laceration or occlusion requiring repair
NeurologicHypesthesiaNeuropraxia 
Medical e.g., DVT, pneumoniae.g., Cardiac Arrest
Psychological  Requires change in treatment
Premature consolidation Requires repeat corticotomy 
Delayed union/ nonunion LI > 2 /adult or >1.5 / childBone graft or retreatment necessary
Fracture Repeat fixationOsteotomy
Axis deviation >5° 6° - 10°>10°
Subluxation TemporaryPermanent
Contracture<10°11°-20°>20° and/or gait disturbance
Did not equalize<2.5 cm2.5-5.0 cm>5.0 cm


LEARNING CURVES


Complication rates were defined to be the number of complications per lengthened segment. To simplify data presentation, these rates were averaged for every five consecutive lengthenings and plotted on a graph. Lines were drawn through consecutive points on the graph to produce the learning curves.


RESULTS

One-hundred forty segments were lengthened among the 110 patients in the study population. Eight segments were in the upper extremities; the remainder were in the lower extremities. Primary lengthenings were performed in 104 segments, 26 were second lengthenings, and ten were third. Sixty-four patients were male and 46 were female. Their average age was 14 years (range, three to 49 years). The average amount of length achieved was 4.4 cm (range, 2.2-10.5 cm). The average lengthening index was 1.0 months/cm for children (<18 years old) and 1.8 months/cm for adults. The initial 18 segments in the series were lengthened by Wagner's method. Surgical use of the Wagner method was discontinued in 1986, when use of the DeBastiani method began. The llizarov method was first used on the 39th segment in the series. Both the DeBastiani and llizarov devices were used in the remainder of the segments. The overall complication rate, total complications divided by segments lengthened, was 182%.

TABLE 2. Complication Risk Factors

Deformity Length %
Type 1 <15
Type 2 16-25
Type 3 26-35
Type 4 36-50
Type5 >50
Lesser Factors
Greater Factors
Angulation
Congenital deformity
Translation
Multisite deformity
Rotation
Multiple surgeries
Contracture
Previous lengthening
Prior infection
Nonunion
Anatomic location (femur, forearm, or foot)
Bone loss
Age (adult)
Active infection
Obesity
Preoperative instability
Poor nutrition
Neurologic deficit




FIG. 1A- 1E. Examples of the five deformity severity types. (A) Type 1: length discrepancy only. Normal joint above and below. (B) Type 2: posttraumatic length deformity with knee DJD and limited motion. (C) Type 3: posttraumatic deformity with a 5-cm (14%) length discrepancy, and three lesser and two greater risk factors. (D) Type 4: congenital pseudarthrosis. Length discrepancy of 7 cm ( 19%) with three lesser and three greater risk factors. (E) Type 5: severe femoral bone loss from osteomyelitis treated for nonunion only, no lengthening. Length discrepancy of 30 cm (>50%), with two lesser and three greater risk factors.


TABLE 3. Wire and Pin Site Classification and Treatment

Grade
AppearanceTreatment
0
NormalWeekly pin care
1
InflamedDaily pin care
2
Serous dischargeAntibiotics
3
Purulent dischargeAntibiotics
4
OsteolysisRemove pin
5
Ring sequestrumDebridement


INCIDENCE OF MINOR COMPLICATIONS

Wire and pin-site complications (inflammation, infection, loosening, or metal failure) were poorly recorded before 1989, at which time a clinical grading system was initiated (Table 3). Nearly all patients experience wire or pin infections. However, the occurrence of loosening, fracture, and ring sequestrum dropped from 10% in 1989 to a current rate of less than 5%. The exact incidence, classification, and treatment for these frequent complications is the subject of another paper. (2)

Wire and pin complications were rare in upper-extremity lengthenings. A minor loss of joint motion (<10i) occurred in 25(18%) of 140 lengthenings.


INCIDENCE OF MAJOR COMPLICATIONS

The overall major complication rate for the series was 72%. By the last year of the study, this rate had fallen to 25%; 13% for DeBastiani cases and 33% for 11izarov cases. The learning curve for major complications is shown in Figure 2. The early peak is attributable to an increase in complications when the DeBastiani method was substituted for Wagner's. Inexperience in judging the regenerate bone formation and timing of fixator removal resulted in several fractures. There was also a disproportionately high number of Type 3 and Type 4 deformities in these early DeBastiani lengthenings.



FIG. 2. The rate of major (Grades 11 and 111) complications as a function of the total number of lengthenings performed.
 


FIG. 3. The learning curves for each technique arranged temporally.

Figure 3 shows the learning curves for each technique arranged temporally. The first segments lengthened by llizarov's method were done after experience had been gained with Wagner's and DeBastiani's methods (note the relatively low complication rate in the early llizarov patients). It is important to emphasize that tutorials and visits to experienced limb-length centers were completed before beginning the llizarov method.


The major complication rate for llizarov cases at study completion was 33%. For DeBastiani cases, major complications occurred in 13% of the patient population at study completion. When corrected for severity of deformity, the complication rates of the two devices are similar. The final severe (Grade III) complication rate approaches 10% for either technique, as illustrated in Figure 4. As experience increased, there was a significant decrease in the complication rate, falling from 55% for the first 60 cases to 12% for the subsequent 78 cases (p < 0.001). The p-values noted throughout the paper represent the observed significance levels of a one-tailed t-test.


FIG. 4. The severe complication rate versus case number.

The correlation of deformity severity with complication rates is presented in Figure 5. The learning curve downslope in Type 3 deformities occurs between 30 and 40 cases, whereas in Type 2 deformities, the downslope took place between ten and 30 cases. Curves for Type 1 and Type 4 deformities are less meaningful because of the small number of patients in these groups.


 

FIG. 5. The major complication rates for deformity severity Types 2 and 3. Curves for Types 1 and 4 deformities are not shown since these groups contain too few patients to draw meaningful curves.


Analysis on these two patient groups showed a significant drop in the complication rate as experienced was gained. The average major complication rate for the first 15 patients with Type 2 deformities was 40%. The average complication rate in the subsequent 40 patients with Type 2 deformities was 5%. Similarly, the average major complication rate for the first 40 patients with Type 3 deformities was 68%, whereas this rate dropped to 14% in the next 22 patients.

The final major (Grade II and III) complication rate in the series is approximately 80% for Type 4 deformities, 40% for Type 3 deformities, and 20% for Type 2 and for Type 1 deformities (Fig. 6). This comparison for major complication rates at study completion is significant (p < 0.01).



HIGH-RISK CIRCUMSTANCES

Major complication rates were particularly high and severe in the following instances: simultaneous lengthenings of congenital etiology; congenitally short femurs; and lengthenings where the percentage lengthened was greater then 15%.

Thirteen femoral and tibial segments were simultaneously lengthened. The results demonstrated that patients with a congenital etiology had more than twice the major complication rate than those with an acquired etiology. Complications including axis deviation, late fracture, and knee subluxation occurred most frequently in the congenitally short femoral group. Complications occurred twice as often in lower-extremity lengthenings greater than 15%. Surprisingly, relengthened segments, if less than 15%, did not have a higher complication rate.



DISCUSSION

Limb-length surgery is exceptionally challenging. The high complication rate early in the authors' series was sobering. A knowledge of the factors that predispose to complications is essential for their avoidance, when possible. Through dedicated study, careful review of the results, meticulous techniques, and the resources of a multidisciplinary team, the authors were able to bring their results into line with those of other published series.


FIG. 6. Final major complication rates for each deformity severity type.


The definition of complication has been a subject of controversy in the limb-length literature. Paley (8) defines "true complications" as those adverse results that persist after treatment is completed. Ilizarov (6) defines a complication to be any adverse or unexpected condition or effect that alters the care plan or reduces the quality of results. Pouliquen (9) describes complications as benign, serious, or severe. In an attempt to clarify and standardize the way complications are reported, the authors use a classification scheme based on the severity and permanence of all unwanted events. They recognize that the complexity, permanence, and salvage of complications occur in a spectrum that yields poorly to a classification scheme. Nonetheless, these limitations (all complications of limb lengthening) are acknowledged for the purpose of documentation, physician education, and informed consent.

Many deformity features can variably affect the difficult process of limb lengthening. Some of these features are known to increase the risk of complications. The femur is considered more difficult to lengthen than the tibia. Lengthening a bone by 30% carries greater risk than a lengthening of 10%. In an effort to correlate the authors' complication rates with features of deformities, a classification for severity of limb deformities was developed (Table 2). The most easily measured feature, length discrepancy, is the basis of this classification. The greater or lesser risk factors were chosen based on the experience of the authors, as well as of others. The validity of this classification is substantiated by the trends in complication rates shown in Figures 5 and 6. The Type 2 deformity complication rate decreased more quickly than the Type 3 rate. Figure 6 further illustrates that the less severe the deformity, the lower the complication rate.

Limb lengthening is a very complex process with numerous pitfalls. Good judgment, accurate knowledge, meticulous technique, and relentless follow-up care are necessary to select and design devices, perform corticotomies, maximize bone regeneration, manage pin sites, maintain articular function, time fixator removal, and manage after care. Instruction in the fine points of these techniques was not available in North America until 1988 and remains limited today. Thus, the senior author, as well as many other North American limb-length surgeons are, to varying extents, self-taught.

Learning curves have the general shape of a peak, followed by a downslope, leveling out to a plateau. The peak occurs as a new technique is introduced and reflects the high rate of complications associated with inexperience. The downslope represents the experience gained as the surgeon becomes more proficient. The plateau represents maintenance of proficiency by continued practice.(4) The learning curves presented here suggest that for complex (Types 3 and 4) deformities a surgeon must perform 40 to 60 lengthenings before lower complication rates are achieved. However, for the less complex (Types 1 and 2) deformities, safety is approached after 20 lengthenings.

To demonstrate how the incidence of complications decreases with respect to experience, a comparison was made between the total number of complications per lengthening and the average number of complications. In the first 60 cases, there were 3.23 complications per lengthening. For the next 78 cases, this value was 1.81. This decrease in the average number of complications per lengthening is significant (p < 0.001). This further confirms the authorsí impression, gained from the shape of the learning curve, that the incidence of complications diminishes significantly after approximately 60 cases.

The current enthusiasm for distraction osteogenesis, combined with heavy marketing of limb-lengthening instrumentation, has encouraged more surgeons to engage in this demanding field. Most of these surgeons are not formally trained in limb-lengthening techniques, and they treat relatively few cases. As illustrated by the authorsí learning curves, this situation is likely to result in a high level of complications. It is the authorsí hope that a properly educated surgeon would be able to enter the learning curve at a more optimal point.

Attributing declining complication rates to a specific device or method is difficult because the biologic and mechanical principles continue to change and, in fact, transcend the device used. After reviewing their initial case results with limb lengthening, the authors identified several factors that contributed to the higher complication rates. The experience gained from these lengthenings has prompted several recommendations for diminishing complications. First, unless surgeons plan to dedicate a significant portion of their practice to limb lengthening, they should refer their patients to centers that specialize in such treatment. Second, if an interest in limb lengthening exists, advanced individual study should be pursued. Third, the novice limb-length surgeon should start with less complex deformities, such as acquired length discrepancies with normal joints. Progression to Type 3 and Type 4 deformities with severe length discrepancies, abnormal joints, and multiple risk factors, should be delayed until competence is achieved in the more basic aspects of limb lengthening. Above all, a cautious approach is recommended to these new techniques, allowing carefully analyzed long-term follow-up evaluation to determine their place in reconstructive surgery.


SUMMARY

The high frequency of major complications gradually diminished after approximately 60 lengthenings. Complications persist in 25% of the patients even after the authors gained substantial experience. The severity of the preexisting deformity also influenced the rate and extent of these complications.


ACKNOWLEDGMENTS

The authors thank Drs. Steven E. Koop, Gillette Children's Hospital; Lyle O. Johnson, Shriners Hospital for Crippled Children; and David A. Fisher, Riverside Medical Center, for their contributions in the care of these patients.


REFERENCES

1. Dahl, M. T., and Fischer, D. A.: Lower extremity lengthening by Wagner's method and by callus distraction. Orthop. Clin. North Am. 22:4, 1991.

2. Dahl, M. T., and Moore, D. P.: Tibial llizarov wire site sequelae, a prospective bacteriologic study. (In Press.)

3. DeBastiani, G., Aldegheri, R., Renzi-Brivio, L., and Trivella, G.: Limb lengthening by callus distraction (Callotasis). J. Pediatr. Orthop. 7:129, 1987.

4. Hughes, G. B.: The learning curve in stapes surgery. Laryngoscope 101:1280, 1991.

5. Ilizarov, G. A.: The principles of the llizarov method. Bulletin of the Hospital for Joint Diseases Orthopaedic Institute 48: 1, 1988.

6. Ilizarov, G. A.: Clinical application of the tensionstress effect for limb lengthening. Clin. Orthop. 250:8, 1990.

7. Mosley, C., and Mosca, V.: Complications of Wagner leg lengthening. Behavior of the Growth Plate. New York, Raven Press, 1988.

8. Paley, D.: Problems, obstacles, and complications of limb lengthening by the llizarov technique. Clin. Orthop. 250:81. 1990.

9. Pouliquen, J. C.: Personal communication. 1992.

10. Wagner, H.: Operative lengthening of the femur. Clin. Orthop. 136:125, 1978.

Back to Index


CỤC CHAI BÀN CHÂN

Published on 12:31, 02/24,2009

CỤC CHAI BÀN CHÂN

BS HUỲNH BÁ LĨNH

BV CTCH TPHCM

BV Đa khoa Vạn Hạnh

 

Người ta ví cục chai ở bàn chân như hạt cát nằm trong giày. Tuy không có những nguy hiểm nhưng đôi lúc gây khó chịu vô cùng. Có những cục chai gây cấn đau đến mức không bước đi được.

 

Hầu như tất cá mọi người chúng ta đều bị chai da bàn chân nhưng không gây đau. Ở những vị trí chịu lực của bàn chân như đế gót hay chỏm các xương bàn, da sẽ bị sừng hoá dày hơn bình thường. Đây là phản ứng bảo vệ của cơ thể tại các vùng da bị đè ép thường xuyên. Lớp da này bị đè ép giữa hai khối cứng là mặt giày, mặt đất với xương gót hay chỏm xương bàn do trọng lượng cơ thể truyền xuống khi đi đứng. Lớp da sẽ phải thích nghi bằng cách dày lên, sừng hóa thành đế gót dày và cứng hơn.

Những vị trí khác ở bàn chân có thể bị chai da là:

* Búp da đầu ngón chân: thường gặp khi mang giày chật, giày mũi nhọn, mũi giày hẹp hoặc thiếu lớp đệm êm ở mũi giày.

* Mặt trong ngón cái hay mặt ngoài ngón út của bàn chân.cũng dễ bị chai vì đây là điểm chịu lực chính của bàn chân và cũng là nơi cọ xát chịu áp lực của mũi chân với mũi giày.

Khối da chai này, từ chuyên môn gọi là "callus". Da chai bình thường không đau, đôi lúc cứng quá hay nứt nẻ gây khó chịu. Khi đi lại bị đau, điều này có nghĩa da chai biến đổi thành cục chai. Từ chuyên môn gọi là corn. Từ "corn" còn có nghĩa là hạt bắp vì thực tế cục chai rất giống với một hạt bắp về kích thước cũng như có một hạt nhân ở giữa. Cục chai có nhân ở giữa khối da chai. Cục chai gây đau do gây dính hay chèn ép các nhánh thần kinh cảm giác da ở xung quanh. Bên cạnh đó nó còn có thể bị viêm nhiễm xung quanh, cũng sẽ gây đau nhức. người ta ví đau cục chai giống đau răng để nói lên sự khó chịu của nó.

Nguyên nhân gây ra cục chai được giải thích do các chồi xương nhỏ, sự biến dạng chỏm xương do các bệnh khớp, can xương gãy bị lệch hoặc các xương phụ, xương đậu quanh các chỏm xương bàn bị biến dạng ...gây ra sự thay đổi áp lực đè ép lên da. Hình vẽ (3)


THUỐC ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP

Published on 10:26, 02/14,2009

THUỐC ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP

BS HUỲNH BÁ LĨNH BV CTHCH TPCM BV VẠN HẠNH

 



Thoái hoá khớp có một ảnh hưởng đáng kể đối với xã hội. Nó là một trong 5 nguyên nhân hàng đầu làm mất khả năng hoạt động ở người lớn tuổi, làm ảnh hưởng chất lượng sống và sinh hoạt hàng ngày của họ. Ở Mỹ, nguời ta ước tính có khoảng 27 triệu người bị thoái hoá khớp vào năm 1990. Đến năm 2020, người ta ước tính con số này sẽ tăng trên 47 triệu người. Thiệt hại do thoái hoá khớp được đánh giá tương đương với 1% tổng sản lượng quốc gia GNP bao gồm chi phí săn sóc y tế và khả năng làm việc của người thoái hóa khớp.

Có rất nhiều loại thuốc được sử dụng nhằm mục đích giảm đau và phục hồi tầm độ hoạt động của khớp.

 

  1. Kháng viêm ức chế COX-2

Nhiều năm nay người ta biết COX-2 là nguyên nhân chủ yếu trong sự huỷ hoại sụn khớp của người thoái hóa khớp. Tuy nhiên sử dụng loại thuốc ức chế COX-2 lâu dài và liều cao sẽ có 2 tác dụng phụ là đau dạ dày và đột quị do tim khiến quá trình điều trị bị ngắt quãng. Vì thế người ta đang tìm kiếm những loại thuốc chọn lọc hơn để giảm các tác dụng phụ này. Hiện tại cách tốt nhất là phối hợp với các loại thuốc khác để giảm liều sử dụng và mức độ phụ thuộc thuốc.

  1. Hyaluronic Acid

Hyaluronic acid được tổng hợp và tiết vào khớp bởi tế bào hoạt mạc type B. Khớp bình thường chứa khoảng 2.5 đến 4.0 mg/ml hyaluronic acid phân tử cao trong khi khớp thoái hóa nồng độ chỉ bằng phân nửa so với bình thường. Trong các khớp viêm thì người ta thấy trọng lượng phân tử hyaluronic acid bị giảm sút vì thế dẫn theo làm giảm tính nhờn và độ co dãn của dịch khớp.

Tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng khớp thoái hóa của Hyaluronic Acid đã được FDA (USA) thừa nhận và cho phép sử dụng cho người thoái hóa khớp, đặc biệt là ở những khớp chưa bị biến dạng xương.

Thuốc được chích vào khớp mỗi tuần 1 liều, liên tục 5 tuần. Tác dụng có thể kéo dài từ 60 ngày đến 1 năm. Với các trường hợp khớp thoái hóa bị biến dạng xương thì hiệu quả kém hơn nhiều.

  1. Glucosamine:

Trong cơ thể, Glucosamine được tổng hợp trong tế bào từ hai chất Glucose và Glutamine. Glucosamine được xem là chất nền cho sự sinh tổng hợp hai chất Hyaluronic acid và Chondroitin sulfate. Trên thị trường với hai dạng Glucosamine Hydrochloride (HCL) và Glucosamine Sulfate (SO4). Ở Mỹ, Glucosamine được xem là thực phẩm dạng thuốc (Supplement). Ở châu Âu, nó được xem là thuốc kê toa. Nó được xem có tác dụng bảo vệ lớp sụn khớp..Tác dụng phụ của nó gần như không có nên nó được phép sử dụng lâu dài như thực phẩm. Có những nghiên cứu cho thấy mức độ cải thiện trệiu chứng đau khớp của Glucosamine đạt trên 60%.

 

  1. Chondroitin Sulfate.

Đây là một thành phần cấu trúc nên sụn khớp. Thí nghiệm trên loài vật Chondroitin sulfate cho thấy tác dụng cải thiện triệu chứng đáng kể. Tuy nhiên trên thực tế sử dụng còn nhiều bàn cãi. Ví dụ đến nay người ta vẫn chưa xác định được tại sao uống Chondroitin Sulfate thì nồng độ của nó trong máu rất thấp. Cạnh đó cơ chế chuyển hoá của nó vẫn chưa được tìm hiểu rõ ràng. Cho đến nay người ta vẫn tiếp tục tìm hiểu để giải đáp các câu hỏi trên.

 

  1. Diacerin

Diacerin được xem là một loại thuốc mới trong điều trị thoái hoá khớp.

Nó có tác dụng ức chế Interleukin I (IL-1), là một trong các yếu tố làm hư sụn khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng giảm đau trong thoái hóa khớp khá hiệu quả. Tiêu chảy là một tác dụng phụ của thuốc khiến việc sử dụng trên lâm sang bị giới hạn. Thêm nữa vì Diacerin là một anthranquinone nên không được uống khi bệnh nhân bị suy thận, độ thanh thải Creatinin dưới 30ml/ phút.

  1. Corticosteroids chích khớp

Cho dù có những tác dụng phụ đáng kể nhưng Cortisteroids chích khớp vẫn được xem là loại thuốc giảm đau hiệu quả cho một số trường hợp viêm khớp thoái hóa. Ưu điểm của nó là rẻ tiền hơn nhiều so với Hyaluronic acid và giúp giảm đau nhanh hơn. Vì thế khi chọn sử dụng, người ta phải cân nhắc giữa lợi ích và tác dụng phụ của nó để đạt đuợc hiệu quả như mong muốn.

 

  1. Paracetamol

Tác dụng giảm đau của Paracetamol trong điều trị đau do thoái hóa khớp được xem là thông qua cơ chế ức chế COX 3. Cơ chế này mới được xác nhận chỉ vài năm gần đây trong quá trình nghiên cứu tìm các loại thuốc kháng viêm giảm đau ít gây tác dụng phụ trên dạ dày và tim mạch.

 

 

 


HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC HẬU PHẪU MỔ KẾT HỢP XƯƠNG

Published on 12:11, 02/09,2009

 

HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC HẬU PHẪU

                       MỔ CỐ ĐỊNH XƯƠNG BÊN TRONG

                                                                BÁC SĨ HUỲNH BÁ LĨNH

                                                                                                                                

Mổ cố định xương bên trong là một bước tiến lớn trong điều trị gãy xương hiện đại. Nó giúp bệnh nhân phục hồi sớm vận động của chi gãy trong khi xương chưa lành, nhờ các dụng cụ kết hợp xương như đinh nội tủy hay nẹp vis. Đây là một phẫu thuật chuyên khoa nên cách chăm sóc hậu phẫu đặc biệt quan trọng. 50% thành công của phẫu thuật phụ thuộc vào các săn sóc và tập luyện sau mổ.

  • 1. Đau hậu phẫu.

 Đau là một hiện tượng sinh lý nhằm bảo vệ cơ thể. Nếu vượt qua ngưỡng đau của cơ thể, nó sẽ gây khó chịu và khổ sở. Đau hậu phẫu phần lớn là đau do vết mổ. Cơn đau nhiều nhất là sau khi hết tác dụng của thuốc mê hay thuốc tê thần kinh, thường là đêm đầu tiên hậu phẫu. Sau đó nó sẽ tự giảm dần và thường không kéo dài quá 3 ngày. Cơn đau nhiều ít tùy thuộc mức độ sang chấn của mô trong cuộc mổ. Những ca gãy nát xương, dập thịt nhiều, gãy cũ thường sẽ đau nhiều vì cần phải sửa chữa phức tạp, sang chấn nhiều hơn. Thời gian phẫu thuật càng kéo dài thì hậu phẫu càng đau nhiều. Vì thế cách giảm đau tốt nhất là về phía người bệnh cần mổ sớm, về phía phẫu thuật viên phải thạo tay nghề mổ nhanh và mổ khéo, giảm thiểu tối đa mức độ tổn thương thêm cho mô trong phẫu trường. Điều kiện tốt nhất là kéo dài thời gian gây tê hậu phẫu như kỹ thuật tê ngoài màng cứng cột sống, lưu kim tê tùng thần kinh cánh tay... Thường sau 24 giờ hậu phẫu thì đau vết mổ sẽ giảm rõ rệt. Lúc này các loại thuốc giảm đau uống cũng đủ hiệu quả.                                                                         

            Cách sử  dụng thuốc hậu phẫu

Thuốc hậu phẫu gồm hai nhóm chính và hai nhóm phụ:

  • Kháng sinh: được dùng theo chỉ định của bác sĩ. Thuờng dùng đường chích trong 3 ngày đầu. Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh đường uống cũng mạnh không kém nên giúp giảm thời gian chích. Ngày đầu tiên hậu phẫu không nên dùng đường uống vì có thể đường tiêu hóa người bệnh đang yếu không đủ sức hấp thu hết toàn bộ thuốc uống. Kháng sinh dùng từ 7 - 10 ngày tùy theo mức độ nặng nhẹ của phẫu thuật. Dùng kháng sinh có thể gây tiêu chảy do loạn khuẩn đường ruột. Có thể khắc phục bằng cách ăn yaourt, sữa chua hay thuốc chứa men vi sinh.
  • Thuốc giảm đau:

Người ta phân thành 3 bậc theo hiệu quả giảm đau của thuốc:

Bậc I : thuốc giảm đau không chứa Morphine như paracetamol, aspirine, thuốc kháng viêm NSAID.

Bậc IIa: thuốc chứa Morphine yếu như Codein(Efferalgan codein), Dextropropoxyphene (Destirol, Di-antalvic). Nó có thể dùng một mình hay phối hợp với thuốc bậc I.

Bậc IIb: thuốc giống Morphine như Buprenorphine, Nalbuphine

Bậc III: là Morphine.

Thuốc giảm đau dùng bắt đầu từ bậc I. Chỉ tăng bậc khi đã duùng liều tối đa của một bậc mà vẫn không công hiệu. Cùng một loại thuốc nhưng sự đáp ứng của cá nhân mỗi người mỗi khác. Vì thế ta nên đổi loại thuốc trong cùng một bậc trước khi tăng bậc. Hoặc có thể phối hợp hai loại thuốc trong cùng một bậc với nhau nhưng khác nhau về cơ chế tác dụng giảm đau.

Thường thường trong mổ cố định xương bên trong chỉ cần giảm đau bậc I hay bậc II là đủ. Rất ít khi cần đến loại III.

  • Thuốc cầm máu:

Gồm có hai loại, loại giúp tăng cường cớ chế đông máu nội sinh như VitaminK, Calcium, Transamin...Loại có tác động co mạch như Adrenoxyl, Adona.... Thường vết mổ sẽ tự cầm máu trong 24 - 48 giờ. Những trường hợp nặng sẽ được đặt dẫn lưu. Ống dẫn cũng sẽ được rút sau 24 - 48 giờ. Băng thấm máu và dịch có thể kéo dài đến 7 - 10 ngày. Nếu trên 10 ngày vẫn còn rỉ máu hay dịch là bất thường, nhiều khả năng đó là một nhiễm trùng tiềm ẩn.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   

  • Thuốc bổ

Tùy theo từng cơ địa người bệnh mà bác sĩ sẽ cung cấp thêm một số thuốc bổ thích hợp như vitamin, calcium, một số hợp chất nâng cao dinh dưỡng cơ thể, bồi bổ cho các cơ quan như tim, gan, thận, não, máu và bộ xương.

  • 2. Chế độ ăn uống

Thường khi có vết thương nên hạn chế ăn uống các thức ăn có nhiều chất đường (ngọt) vì nó làm tăng hiện tượng viêm trong cơ thể. Uống nước đá có thể gây nhức xương. Một số loại khoai có thể làm vết thương bị sưng.

An nhiều chất đạm động vật và thực vật.

Một số thức ăn rẻ tiền mà giúp ích cho sự tạo xương là đậu nành và các sản phẩm từ  đậu nành, mè đen, rau xanh, bưởi ...

  • 3. Rượu bia và thuốc lá đã được các nhà khoa học chứng minh là có tác hại lên các mạch máu ở các vết thương và xương gãy khiến khó lành vết thương và khó liền xương. Trên những người bệnh hút thuốc, tỉ lệ nhiễm trùng sau mổ cao gấp nhiều lần.
  • 4. Vận động trị liệu

Vận động có ý nghĩa quan trọng không kém gì thuốc. Nó giúp máu huyết lưu thông vì thế giúp vết thương mau lành, giảm đau nhức, giảm sưng. Nằm lâu gây nhiều biến chứng như loãng xương, cứng khớp, teo cơ tại chỗ gãy xương cũng như ảnh hưởng lên sự tiêu hóa gây khó tiêu, chướng bụng; rối loạn sự bài tiết chất thải như nhiễm trùng tiểu, táo bón, giảm hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi; ứ trệ tuần hoàn gây sưng phù, viêm tắc tĩnh mạch...Đã có trường hợp, các biến chứng này gây tử vong cho người bệnh. Sự vận động sớm sẽ giảm thiểu phần lớn các tác hại của nằm lâu.

Thuờng xuyên cử động các ngón chân và cổ chân để giúp máu huyết lưu thông. Điều này giúp vết thương mau lành và tránh cứng khớp cũng như co rút gân cơ. Bệnh nhân nên ngồi dậy sớm sẽ giúp đường tiêu hóa hoạt động tốt, tránh được táo bón và chướng bụng khó tiêu.

Uống nhiều nước sẽ giúp giảm bớt chóng mặt và nhức đầu sau mổ.

  • 5. Tư thế nằm hậu phẫu

Sau mổ người bệnh thường lo sợ khi thấy hiện tượng sưng ở bàn tay hay bàn chân. Thật ra sưng là biến chứng của gãy xương. Xương gãy di lệch gây ra sự chèn ép các mạch máu, cản trở sự lưu thông máu. Vì thế sau chấn thương một thời gian thì bị sưng đầu chi. Phẫu thuật cũng được xem là một chấn thương gây ra cho cơ thể nên sau mổ bác sĩ khuyên nằm tay hay chân kê cao giúp giảm bớt sự ứ máu tĩnh mạch gây sưng phù sau mổ. Đặc biệt các phẫu thuật có đặt garot thường sau mổ hay bị sưng nhiều hơn vì garot ép lên các tĩnh mạch nông.


THỂ THAO VÀ TRẺ EM

Published on 14:03, 01/24,2009

 

THỂ THAO VÀ TRẺ EM.

BS. HUỲNH BÁ LĨNH

BV CTCH. TPHCM

Thể thao là một loại hình vận động của con người. Luyện tập thể thao giúp cơ thể tăng cường sức khoẻ. Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia hoạt động thể thao. Có rất nhiều trẻ em tham gia chơi các môn thể thao khác nhau. Tuy nhiên cần chú ý đến các đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để có thể giúp chúng phòng ngừa và khắc phục các chấn thương thể chất và tinh thần.

  • 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHẤN THƯƠNG THỂ THAO CỦA TRẺ EM.
  • Hơn 90% chấn thương thể thao của trẻ em là bộ máy vận động (cơ xương khớp).
  • Chấn thương hệ vận động ở trẻ em dễ bị hơn người lớn.
  • Thường gặp nhất là gãy xương dài.
  • Xương dài của trẻ em có những đặc điểm khác biệt với người lớn. Đầu xương có nhân tạo xương còn gọi là sụn tiếp hợp. Chúng giúp cho xương dài ra liên tục cho đến khi trưởng thành. Quá trình này sẽ phát triển nhanh ở tuổi dậy thì. Đây cũng là lứa tuổi hoạt động nhiều của trẻ vì thế cũng dễ bị tổn thương nhiều nhất. Nghiên cứu cho thấy lớp sụn tiếp hợp ở đầu xương rất dễ bị tổn thương và lại thường gặp trong sinh hoạt hàng ngày.(10% các chấn thương).
  • Các loại tổn thương sụn tiếp hợp:

Lún xẹp sụn tiếp hợp: do các áp lực lớn đè từ trên xuống đột ngột  (té cao) hoặc tích lũy theo thời gian ( tập nặng, gánh vác, tì đè). Thường nó sẽ gây hoại tử và cốt hóa sớm đầu xương dẫn đến ngắn chi.

Bong sụn tiếp hợp: là loại sang chấn thường gặp nhất ở trẻ em. Thường xảy ra khi trẻ chạy chơi té ngã chống tay, khuỵu gối. Nó có thể để lại biến chứng vẹo khớp gây giới hạn vận động của trẻ. Vì thế với loại chấn thương này, người ta phải tiến hành nắn khẩn cấp. Nếu làm tốt, trẻ sẽ mau lành và phát triển hoàn toàn bình thường mà không hề có di chứng nào..

Dập nát sụn tiếp hợp: ít xảy ra, nếu có thường cũng ít khi có triệu chứng và chỉ phát hiện khi đã trở thành di chứng. Nó dẫn đến sự rối loạn hoàn toàn sự phát triển xương làm chi dài ngắn so le.

  • Gãy thân xương dài: xương trẻ em có tính dẻo nên còn gọi là gãy cành tươi. Đây là loại gãy dễ nắn, dễ lành, điều trị đơn giản và hoàn toàn không để lại biến chứng.
  • Trật khớp: ít xảy ra. Nếu có cần phải nắn khẩn và cố định khớp trật một thời gian.
  • Bong gân: thường gặp, dễ lành. Điều trị bằng cách nghỉ ngơi, chườm lạnh và tạm thời ngưng vận động khớp đau trong 1 - 2 tuần. Tránh đắp thuốc hay xoa bóp các loại dầu nóng, lá cây ... có thể làm tổn thương lớp da non của trẻ và gây viêm khớp hậu chấn thương.
  • Tổn thương cột sống cổ: những động tác chổng ngược đầu, té cắm đầu, va chạm đầu hoặc thường xuyên tì đè mang vác nặng trên đầu có thể làm tổn thương các dây chằng quanh cột sống cổ. Thường gặp là bán trật hay trật khớp đốt sống cổ trên cao như C1, C2... gây ra chèn ép các dây thần kinh dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như tử vong do ngưng thở, yếu liệt hay tê tay chân.

  • 2. NGUYÊN TẮC LUYỆN TẬP THỂ THAO CHO TRẺ EM.
  • Không được tạo áp lực thành tích cao đè nặng tâm lý của trẻ. Điều này là nguyên tắc căn bản cho sự luyện tập thể thao ở trẻ em. Đối với trẻ, thể thao phải là một trò chơi, dùng để hoàn thiện con người. Chuyên nghiệp hóa thể thao trẻ em tương tự như cho các em vào đời sớm. Nó sẽ nhanh chóng thúc đẩy sự lão hóa cơ thể của trẻ cả tinh thần lẫn thể chất.
  • Chương trình tập luyện kỹ thuật phải phù hợp với thể chất và tinh thần của từng trẻ. Đối với trẻ có năng khiếu, cần có chuyên gia kỹ thuật lẫn sức khoẻ hướng dẫn và theo dõi để có được sự phát triển tốt nhất cho trẻ. Cần lưu ý có một số môn thể thao cấm với trẻ em như cử tạ, ném tạ, chạy vượt rào, nhảy ba bước, quyền Anh...Không phải lúc nào cũng áp dụng chế độ luyện tập của người lớn cho trẻ. Với cường độ và tần số động tác không thích hợp có thể làm hư sụn tiếp hợp của trẻ theo cơ chế tích lũy tăng dần.
  • Chọn lựa chế độ dinh dưỡng và vệ sinh tương xứng với mức độ vận động của trẻ. Làm không tốt điều này có thể dẫn đến các rối loạn tâm sinh lý khi trẻ đến tuổi dậy thì. Lứa tuổi này xuất hiện sự bùng phát về thể chất. Cần có sự chuẩn bị trước đó vài năm để tạo nguồn dự trữ về dinh dưỡng trong cơ thể trẻ. Lúc đó mới đáp ứng kịp những yêu cầu mạnh mẽ khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì hoàn tất chu trình phát triển của hệ xương. Dinh dưỡng thiếu hụt hay mất cân đối giữa các thành phần sẽ làm trẻ suy dinh dưỡng hay béo phì đều có thể làm rối loạn sự phát triển xương khớp.
  • Chú ý rèn luyện thể lực cho trẻ thật tương xứng với kỹ thuật của bộ môn thể thao đòi hỏi. Yếu tố hết sưc quan trọng vì nó giúp cho trẻ phát triển cân đối và tránh được các nguy cơ chấn thương trong tập luyện. Cơ bắp của trẻ em còn non nớt. Thường nó không chịu được các lực căng lớn hoặc kéo dài. Chính vì thế phải tập theo nguyên tắc tăng dần, nếu không có thể làm tổn thương sợi cơ gây teo cơ không hồi phục. Huấn luyện viên phải thấu hiểu và thận trọng khi cho trẻ tập các động tác kỹ thuật phù hợp với thể lực của trẻ. Ví dụ như đánh banh (tennis), đánh cầu (cầu lông), lực đập của tay vợt đôi khi rất lớn trong thi đấu. Nếu cơ tay trẻ chưa được luyện đủ sức, khi bất ngờ đánh banh thi đấu có thể làm chấn thương như rách cơ , rách gân cơ chỏm xoay, dãn dây chằng hoặc gãy bong sụn tiếp hợp đầu trên xương cánh tay. Do đó trước khi cho trẻ thi đấu, cần phải kiểm tra thể lực có đáp ứng đầy đủ mới cho ra sân. Sự cân nhắc thận trọng của huấn luyện viên và phụ huynh sẽ hạn chế nhiều nguy cơ chấn thương của trẻ, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ thi đấu thành công.

  • 3. CHỌN LỰA MÔN THỂ THAO TỐT NHẤT CHO TRẺ.
  • Hãy để cho trẻ tự chọn lựa môn thể thao nào chúng cảm thấy thích. Bởi vì thể thao là một trò chơi, trước tiên nó cần có lòng ham thích. Sự ép buộc có thể làm ức chế tâm lý trẻ. Từ đó rất dễ làm cho trẻ bị chấn thương do thực hiện một cách cố tình hay vô ý sai kỹ thuật các động tác.
  • Môn thể thao cá nhân ít bị chấn thương hơn thể thao tập thể. Tuy nhiên, sự cạnh tranh và tình đồng đội trong thể thao tập thể sẽ giúp trẻ phát triển tốt hơn về tâm lý lẫn thể chất.
  • Thể thao có hai nhóm: vận động nặng và vận động nhẹ. Vận động nặng gồm các bộ môn có động tác chạy nhảy và mang vác ( chiếm tỉ lệ đa số). Vận động nhẹ gồm các môn không chạy nhảy như bơi lội, đi bộ, đạp xe đạp, thể dục thẩm mỹ, cờ vua... (thiểu số). Nhóm vận động nặng dễ bị chấn thương nhiều hơn nhưng giúp phát triển thể chất tốt hơn.
  • Thi đấu sẽ bị chấn thương là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên nó là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ sự luyện tập cho trẻ. Chiến thắng là cái đích cho trẻ cố gắng phấn đấu vươn tới. Vì thế khi chọn lựa môn thể thao có thi đấu, cần có sự quan tâm đặc biệt với trẻ nhằm động viên và kềm hãm đúng lúc những hệ quả của nó.
  • Trong luyện tập thể thao , nhiều người quan tâm vấn đề kỹ thuật nhằm đạt thành tích nhưng quên rằng chính thể lực mới là căn bản của thể thao và thể lực còn là mục đích để chúng ta chơi thể thao. Thể lực tốt sẽ giúp thể hiện tốt các kỹ thuật dộng tác môn chơi. Từ đó sẽ hạn chế tối đa các chấn thương có thể xảy ra. Các môn thể thao cá nhân sẽ giúp rèn luyện thể lực tốt hơn. Vì thế để chơi môn tập thể, người ta phải có giờ luyện thêm thể lực.
Tóm lại tùy theo sở thích và tâm sinh lý của trẻ, các bậc phụ huynh nên cân nhắc chọn lựa cho con em mình những môn thể thao phù hợp. Sau đó cần quan tâm theo dõi và giúp đỡ một cách hiệu quả cho trẻ phát triển năng khiếu của mình. Kết quả sẽ tốt đẹp nếu chúng ta vun trồng một cách khoa học với một tình yêu nhiệt thành.  


BƠI LỘI VÀ TRẺ EM

Published on 14:02, 01/24,2009

 

BƠI LỘI VÀ TRẺ EM

BS. HUỲNH BÁ LĨNH

BV CTCH. TPHCM

Trong các môn thể thao, bơi lội là môn chơi có rất ít chấn thương đối với người tập. Nguy cơ chấn thương thấp, lợi ích nhiều nên nhiều phụ huynh thường cho con em tập luyện để rèn luyện sức khoẻ. Bơi lội là mộn thể thao phù hợp cho mọi người, từ già đến trẻ.

BƠI LỘI LÀ MÔN THỂ THAO TỐT NHẤT CHO MỌI NGƯỜI.

  • 1. Bơi là vận động có sẵn trong tiềm thức mỗi người. Khi còn trong bào thai, trẻ đã sống hoàn toàn trong môi trường lỏng. Nguồn gốc con người xuất phát từ đời sống dưới nước. Chính vì thế người ta công bố nhiều nghiên cứu dạy bơi cho trẻ ngay từ khi mới sanh ra. Kết quả cho thấy trẻ bơi rất tốt và khoẻ mạnh hơn các trẻ ở nhóm khác rất nhiều.
  • 2. Khi ở trong nước, cơ thể gần như ở trạng thái không trọng lượng do tác động của lực đẩy Ac-si -met. Nhờ đó áp lực tì nén lên các khớp xương giảm đến mức thấp nhất. Khác hẳn khi ở trên cạn, các khớp xương và cơ bắp luôn phải tiêu hao thêm một số năng lượng để chống lại tác động của trọng lực đè ép từ trên xuống. Với trẻ em, khi áp lực trên các sụn tiếp hợp giảm đi sẽ giúp kích thích sự tăng trưởng chiều dài của xương. Vì thế người ta nói đi bơi giúp tăng chiều cao là hoàn toàn chính xác.
  • 3. Khi bơi lội, các sóng nước xung quanh sẽ tác động xoa bóp làn da và cơ bắp toàn cơ thể. Điều này sẽ kích thích tăng sự lưu thông máu, cung cấp thêm nhiều dinh dưỡng cho các tế bào, thải trừ các chất không cần thiết hay độc hại. Vì vậy, người bơi cảm thấy dễ chịu và thoải mái hơn hẳn tập luyện các bộ môn khác. Nó cũng lý giải tại sao nhiều trẻ rất thích bơi. Nhiều phụ huynh phải khó khăn lắm mới có thể kéo chúng lên bờ.
  • 4. Các động tác bơi lội đều nhái theo động tác trong tự nhiên như bơi ếch, bơi sải, bơi bướm... Vì thế nó có được sự cân bằng giữa các bắp cơ. Gần như toàn bộ cơ thể đều tham gia vận động khi chúng ta bơi. Một số bộ môn khác chỉ tác động lên một nhóm cơ hay một phần cơ thể. Chính vì thế người ta còn chọn bơi lội là môn tập để luyện thêm thể lực cho các vận động viên.

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA BƠI LỘI.

Người ta nhận thấy bơi lội gần như không có chống chỉ định cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, khuyết điểm của bơi lội lại nằm ở môi trường luyện tập, đó là chất lượng nước. Hiện nay nước trong nhiều hồ bơi chưa đảm bảo vệ sinh nên làm cho người đi bơi bị ảnh hưởng sức khoẻ như viêm mũi, viêm họng,viêm xoang, bệnh ngoài da... Các môi trường nước tự nhiên khác như sông, hồ, biển cũng bị ô nhiễm. Điều này hạn chế nhu cầu bơi lội của người dân, nhất là trẻ em.

Trẻ em khi xuống nước bơi lội thường ham vui, mê mải chơi. Thời gian kéo dài quá mức có thể làm trẻ mệt mỏi gây hiện tượng vọp bẻ bắp chân hay nhiễm lạnh do gió. Để phòng ngừa vọp bẻ, trẻ cần phải khởi động (làm nóng) trước khi xuống nước. Khi bơi nên có một lớp áo thun mỏng ôm sát người để tránh gió lạnh gây mất nhiệt. Nhắc nhở trẻ lên bờ khi chớm có dấu hiệu mỏi mệt. 


1 2 3 4  Sau»