9 Dec, 2011
đêm trắng
10 Oct, 2011
Nghề bác sĩ ở Việt nam trở thành một nghề dễ bị nguy hiểm tính mạng
Nỗi niềm bác sĩ trước nạn 'giang hồ' trong bệnh viện
"Các vụ hành hung liên tục xảy ra, sáng nay tôi lại nghe đồng nghiệp báo ở một bệnh viện tại quận 5, thân nhân bệnh nhân kéo nhau vào nhà thương đòi tính sổ với bác sĩ. Mệt mỏi quá", bác sĩ Nguyễn Hoài Nam tâm sự qua bài viết gửi VnExpress.net.
> Bác sĩ cấp cứu bị người nhà bệnh nhân hành hung/ Bác sĩ cấp cứu - nghề nguy hiểm
Ở Bạc Liêu, người nhà đập phá bệnh viện, phá nhà bác sĩ, đánh nhân viên y tế nhào nhào cả lên. Vài hôm sau, lại thấy báo chi đăng tin người nhà bệnh nhân đâm chết một bác sĩ, đâm bị thương nặng một bác sĩ khác. Hôm sau nữa lại thấy hơn100 người say đập phá bệnh viện ở Móng Cái…
Cả giới thầy thuốc ở Sài Gòn xôn xao, các nhân viên y tế sợ hãi và tự hỏi: "Không biết đến một ngày nào đó sẽ lại đến lượt mình bị hành hung, nhà mình sẽ bị đập phá".
![]() |
| Cứu chữa cho bệnh nhân, thế nhưng nếu chẳng may người bệnh không qua khỏi, bác sĩ dễ bị oán trách, thậm chí lên án. Ảnh: Thiên Chương |
Theo một số người, hành động này là do tức nước vỡ bờ, do sự giao tiếp không tốt, do thái độ vô trách nhiệm của những người làm nghề thầy thuốc. Nhưng sự thật thì có phải như vậy? Hay đây chỉ là hệ quả của sự bực tức nào đó trong cuộc sống do không được giải tỏa, những sự khó chịu dồn nén trong tâm tư của mỗi người và nhiều cái khác nữa hình thành trong mỗi người dân. Và bệnh viện là nơi điều đó bùng nổ.
Tự sự của kẻ đâm chết bác sĩ tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, viết: "do bác sĩ không ra cấp cứu kịp", "bác sĩ không mở được tủ lấy đồ cấp cứu cho bệnh nhân". Điều này thật ngụy biện. Chúng ta phải hiểu rằng ở một bệnh viện huyện, thỉnh thoảng mới có một ca cấp cứu nặng, các trang thiết bị chuyên dùng cũng không thể để ở ngoài liên tục được vì vấn đề bảo quản tài sản của cơ quan nhà nước. Nếu chúng ta cứ vịn vào những cái cớ như vậy rồi hành hung, rồi nhẫn tâm đâm chết thầy thuốc, thì đó chính là một tội ác vô cùng lớn.
Bác sĩ bị hại là người sắp về hưu sau mấy chục năm cống hiến. Anh không làm gì nên tội cả, ngay cả khi chết anh cũng không hiểu tại sao mình chết. Ngay cả khi có mặt lực lượng bảo vệ pháp luật ở bên cạnh, vậy mà anh phải chết. Cái chết quá nghiệt ngã và đau lòng khiến chúng tôi, những người thầy thuốc đều tự hỏi, ai bảo vệ mình? Pháp luật có dành cho mình một hành lang pháp lý an toàn hay không? Đơn vị mình công tác có bảo vệ mình hay không?
Có lẽ đau lòng hơn cả là việc chính đơn vị người thầy thuốc công tác cũng không bảo vệ họ. Khi mà có chuyện gì xảy ra, thủ trưởng đơn vị luôn kỷ luật thầy thuốc trước để trấn an dư luận mà không cần biết bác sĩ đó hành xử đúng hay sai? Cách hành xử này, khi đi học cách quản lý bệnh viện, người ta cũng dạy chúng tôi như vậy. Tức phải ngừng công tác đối tượng và viết bản kiểm điểm đã, mọi chuyện đúng sai rồi sẽ tính sau. Với người trí thức như vậy là một sự xúc phạm ghê gớm và đầy đau đớn.
Nói như vậy, không có nghĩa là người thầy thuốc không có lỗi. Trên thực tế, có nhiều chuyện rất đau lòng xuất phát từ bác sĩ, những người quên lời thề Hypocrate để làm những chuyện trái lương tâm như: thờ ơ, vô trách nhiệm, hù dọa bệnh nhân để lấy phong bì. Thậm chí có người thầy thuốc còn "ăn" ngay trên lưng đồng nghiệp của mình, giành và phản thầy khi nói xấu thầy của mình, tranh bệnh nhân của thầy - người đã từng dìu dắt mình những bước đi đầu tiên trong quá trình hành nghề y.
Nhưng những con người như vậy chỉ đếm trên đầu ngón tay, tệ tham nhũng, phong bì trong ngành y tế so với các ngành khác chỉ là những con số lẻ.
Cho nên cũng đừng vì thiểu số, đừng đổ lỗi hết cho mặt trái của nền kinh tế thị trường mà hành động côn đồ. Hiện nay trên thế giới này có biết bao nhiêu đất nước có nền kinh tế thị trường, nhưng có ở đâu mà người ta lại phá nhà và đâm chết bác sĩ. Ngay cả đất nước Campuchia bé nhỏ và nghèo nàn, lạc hậu cũng thế, ở đó người ta coi thầy thuốc là thượng đế, là đấng toàn năng có thể đưa con người từ cõi chết về với sự sống, từ nỗi đau vô cực về đến niềm vui vô biên. Một anh bạn người Campuchia của tôi đã nói với tôi như vậy.
Sáng nay, trước khi viết bài này tôi lại nghe được một đồng nghiệp nói ở một bệnh viện thuộc địa bàn quận 5. Thân nhân bệnh nhân lại kéo nhau vào bệnh viện đòi tính sổ với bác sĩ. Tôi tự hỏi, tại sao bệnh nhân, thân nhân và thầy thuốc lại không thể ngồi lại với nhau với niềm cảm thông. Thầy thuốc đồng cảm hơn nữa cho nỗi đau của người bệnh và ngược lại, người bệnh và thân nhân thông cảm hơn nữa nỗi khó khăn vất vả, hy sinh quên mình của người thầy thuốc.
Hãy nói chuyện thẳng thắn với nhau và để cho pháp luật xử những người thầy thuốc vô trách nhiệm, thiếu lương tâm nghề nghiệp. Chúng ta không thể thay mặt pháp luật làm điều đó vì xã hội chúng ta đang sống là một xã hội tốt và hoàn hảo.
Khi tìm hiểu sâu hơn nữa về những câu chuyện đau lòng vừa qua, chúng tôi biết một trong những nguyên nhân sâu xa, phải kể đến quan điểm chưa đúng của một số người trong xã hội. Cụ thể, khi nói đến sai sót giữa bác sĩ với bệnh nhân thì dư luận bao giờ cũng đứng về phía bệnh nhân, không cần biết đúng sai. Những hành vi không hay của bệnh nhân thì ít được dư luận đề cập, bởi theo họ, bệnh nhân bao giờ cũng đúng, nhu cầu của bệnh nhân là đúng.
Quá tải cũng là nguyên nhân khiến dễ mọi thứ xấu hơn. Cảnh bệnh viện vì bệnh nhân quá đông nên yêu cầu bác sĩ khám bệnh từ 4h sáng đâu còn là lạ. Điều này, trên thế giới ngoại trừ khi có chiến tranh còn không có một quốc gia nào làm như vậy.
Như vậy, hãy tìm những phương pháp khắc phục sự quá tải ở bệnh viện bằng cách xây dựng văn hóa khám bệnh cho bệnh nhân. Ví dụ như: Không nên dồn khám bệnh vào buổi sáng, không nên dồn khám bệnh vào những ngày đầu tuần, khám và chữa những bệnh thông thường ở những đơn vị khám bệnh cơ sở. Nhất là không nên bị coi bệnh nhân đông chạy theo thành tích của một số vị có chức vụ trong bệnh viện.
Mọi biện pháp đề ra hiện nay chỉ là giải pháp tình thế và không hữu hiệu. Chính sự quá tải mà không được giải quyết đi kèm với bệnh thành tích làm cho sự giao tiếp giữa thầy thuốc và bệnh nhân trở nên không tốt, tạo ra sự ban ơn và xin cho. Đó là nguyên nhân chính gây ra mọi thảm kịch trong ngành y tế trong giai đoạn hiện nay.
Hãy giải quyết mọi việc trên cơ sở xây dựng một nền văn hóa khám và chữa bệnh mà đối tượng cần điều chỉnh là cả bệnh nhân và thầy thuốc ,mới cứu vãn được sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức xã hội trong lĩnh vực khám chữa bệnh giai đoạn hiện nay.
PGS TS Nguyễn Hoài Nam
Chủ tịch Hội Tĩnh mạch học TP HCM
23 Sep, 2011
ACLASTA (ZOLEDRONIC ACID) THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG QUA ĐƯỜNG TRUYỀN DỊCH
Aclasta (zoledronic acid)
| Main use | Active ingredient | Manufacturer |
|---|---|---|
| Paget's disease of bone | Zoledronic acid | Novartis |
How does it work?
Aclasta infusion contains the active ingredient zoledronic acid, which is a type of medicine called a bisphosphonate. Bisphosphonates are medicines that reduce the turnover of bone.
Bone is not a static structure. It is continually shaped, reformed and rebuilt by cells called osteoblasts and osteoclasts. These cells continously deposit and remove calcium and phophorous, stored in a protein network that makes up the structure of the bone. Old bone is broken down by the osteoclasts and new bone is formed by the osteoblasts.
In Paget's disease of bone the normal metabolism of bone is disturbed. There is an increase in bone breakdown by the osteoclasts and increased and irregular formation of new bone by the osteoblasts. The normal bone marrow also becomes replaced with blood vessels and fibrous tissue. In this disease there are often no symptoms for many years, but over time the bones can become enlarged, deformed, painful, weak and prone to breaking. The enlarged and deformed bones can also put pressure on nerves, causing pain and muscle weakness.
In women at the menopause, blood levels of the female hormone oestrogen start to decrease. This results in an increase in bone breakdown by the osteoclasts, which can lead to a loss of bone density. Bone loss is particularly rapid for the first ten years after the menopause and it may lead to the development of osteoporosis - a condition in which the bones become weak and brittle and break (fracture) more easily.
Zoledronic acid works by binding very tightly to the bone and preventing the calcium being removed by the osteoclasts. This stops the osteoclasts from breaking down the bone. The reduced bone turnover helps to reduce deformity and keep the bones strong and less likely to break.
Zoledronic acid is given as a single dose for treating Paget's disease of bone. It is given via a drip into a vein (intravenous infusion) over at least 15 minutes. For the treatment of postmenopausal osteoporosis zoledronic acid is given as a single dose once a year.
As this medicine slows bone turnover and so prevents calcium being reabsorbed from the bones into the blood, it can cause the amount of calcium in your blood to fall too low. Your doctor may ask you to take calcium and vitamin D supplements before you have your infusion and for at least ten days after it to prevent this. Calcium andvitamin D are also needed for strong bones and your doctor may ask you to continue to take supplements of these if your dietary intake is too low, or you are at risk of deficiency.
What is it used for?
- Bone disease called Paget's disease, in which there is excessive breakdown of bone and increased and irregular formation of bone, causing the bones to become enlarged, deformed, painful, weak and prone to breaking.
- Treatment of osteoporosis in postmenopausal women with high risk of fracture.
Warning!
- Your doctor may want you to have a blood test before your infusion to check the level of calcium in your blood. After you have had your infusion, your doctor may also want you to have further blood tests to monitor the level of calcium in your blood. Your calcium level may drop in the first 10 days after your infusion and your doctor may prescribe you calcium and vitamin D supplements to prevent this. (Vitamin D is needed by the body to help it absorb calcium.) If the amount of calcium in your blood falls too low, this may cause symptoms such as muscle spasms, numbness, or tingling sensations, especially in the area around the mouth. Tell your doctor if you get any of these symptoms.
- It is important that you drink enough fluid both before and after your infusion to prevent dehydration. Follow your doctors instructions.
- The class of medicines that zoledronic acid belongs to (bisphosphonates) has been associated with a condition called osteonecrosis of the jaw. The majority of cases of this condition have been in cancer patients treated with bisphosphonates by injection into a vein and many of these patients were also having treatment with chemotherapy or corticosteroids. However, the risk may also be increased by poor oral hygiene, dental problems, teeth extractions and oral surgery. For this reason, your doctor may want you to have a dental examination and, if necessary, appropriate preventive dentistry, before you start treatment with this medicine. Discuss this with your doctor. It is important to look after your mouth and teeth as much as possible while you are receiving this medicine. Invasive dental procedures such as tooth extraction or surgery should be avoided if possible. If you need to see a dentist during treatment, make sure they know you are receiving this medicine.
Use with caution in
- Decreased kidney function.
- Dehydration.
- People receiving treatment with diuretic medicines.
- Disorders of the parathyroid gland (gland that produces hormones responsible for regulating calcium metabolism).
- Vitamin D deficiency.
Not to be used in
- Allergy to other bisphosphonate medicines.
- People with a low level of calcium in their blood (hypocalcaemia).
- Children and adolescents.
- Pregnancy.
- Breastfeeding.
This medicine should not be used if you are allergic to one or any of its ingredients. Please inform your doctor or pharmacist if you have previously experienced such an allergy.
If you feel you have experienced an allergic reaction, stop using this medicine and inform your doctor or pharmacist immediately.
Pregnancy and breastfeeding
Certain medicines should not be used during pregnancy or breastfeeding. However, other medicines may be safely used in pregnancy or breastfeeding providing the benefits to the mother outweigh the risks to the unborn baby. Always inform your doctor if you are pregnant or planning a pregnancy, before using any medicine.
- The safety of this medicine during pregnancy has not been established. It should not be used during pregnancy. Seek medical advice from your doctor.
- It is not known if this medicine passes into breast milk. It should not be given to women who are breastfeeding. Seek medical advice from your doctor.
Side effects
Medicines and their possible side effects can affect individual people in different ways. The following are some of the side effects that are known to be associated with this medicine. Just because a side effect is stated here does not mean that all people using this medicine will experience that or any side effect.
- Flu-like symptoms.
- High temperature (fever).
- Disturbances of the gut, such as diarrhoea, indigestion, nausea and vomiting.
- Headache.
- Dizziness.
- Bone pain.
- Pain in the muscles or joints.
- Pain in the extremities, eg hands and feet.
- Low blood calcium level (hypocalcaemia).
- Shortness of breath.
- Lethargy.
- Fatigue.
- Weakness or loss of strength (asthenia).
- Loss of appetite.
- Difficulty sleeping (insomnia).
- Redness, swelling or pain at the infusion site.
- Rash.
- Irregular heartbeat (atrial fibrillation).
- Inflammation of the membrane lining the eye (conjunctivitis).
- Decreased kidney function.
The side effects listed above may not include all of the side effects reported by the drug's manufacturer.
For more information about any other possible risks associated with this medicine, please read the information provided with the medicine or consult your doctor or pharmacist.
How can this medicine affect other medicines?
It is important to tell your doctor or pharmacist what medicines you are already taking, including those bought without a prescription and herbal medicines, before you start treatment with this medicine. Similarly, check with your doctor or pharmacist before taking any new medicines while taking this one, to ensure that thecombination is safe.
This medicine should be used with caution in people who are taking medicines that can affect kidney function, eg aminoglycoside antibiotics such as gentamicin, or that can cause dehydration, eg diuretics such as furosemide.
23 Sep, 2011
ACLASTA (ZOLEDRONIC ACID) THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG QUA ĐƯỜNG TRUYỀN DỊCH
Aclasta (zoledronic acid)
| Main use | Active ingredient | Manufacturer |
|---|---|---|
| Paget's disease of bone | Zoledronic acid | Novartis |
How does it work?
Aclasta infusion contains the active ingredient zoledronic acid, which is a type of medicine called a bisphosphonate. Bisphosphonates are medicines that reduce the turnover of bone.
Bone is not a static structure. It is continually shaped, reformed and rebuilt by cells called osteoblasts and osteoclasts. These cells continously deposit and remove calcium and phophorous, stored in a protein network that makes up the structure of the bone. Old bone is broken down by the osteoclasts and new bone is formed by the osteoblasts.
In Paget's disease of bone the normal metabolism of bone is disturbed. There is an increase in bone breakdown by the osteoclasts and increased and irregular formation of new bone by the osteoblasts. The normal bone marrow also becomes replaced with blood vessels and fibrous tissue. In this disease there are often no symptoms for many years, but over time the bones can become enlarged, deformed, painful, weak and prone to breaking. The enlarged and deformed bones can also put pressure on nerves, causing pain and muscle weakness.
In women at the menopause, blood levels of the female hormone oestrogen start to decrease. This results in an increase in bone breakdown by the osteoclasts, which can lead to a loss of bone density. Bone loss is particularly rapid for the first ten years after the menopause and it may lead to the development of osteoporosis - a condition in which the bones become weak and brittle and break (fracture) more easily.
Zoledronic acid works by binding very tightly to the bone and preventing the calcium being removed by the osteoclasts. This stops the osteoclasts from breaking down the bone. The reduced bone turnover helps to reduce deformity and keep the bones strong and less likely to break.
Zoledronic acid is given as a single dose for treating Paget's disease of bone. It is given via a drip into a vein (intravenous infusion) over at least 15 minutes. For the treatment of postmenopausal osteoporosis zoledronic acid is given as a single dose once a year.
As this medicine slows bone turnover and so prevents calcium being reabsorbed from the bones into the blood, it can cause the amount of calcium in your blood to fall too low. Your doctor may ask you to take calcium and vitamin D supplements before you have your infusion and for at least ten days after it to prevent this. Calcium andvitamin D are also needed for strong bones and your doctor may ask you to continue to take supplements of these if your dietary intake is too low, or you are at risk of deficiency.
What is it used for?
- Bone disease called Paget's disease, in which there is excessive breakdown of bone and increased and irregular formation of bone, causing the bones to become enlarged, deformed, painful, weak and prone to breaking.
- Treatment of osteoporosis in postmenopausal women with high risk of fracture.
Warning!
- Your doctor may want you to have a blood test before your infusion to check the level of calcium in your blood. After you have had your infusion, your doctor may also want you to have further blood tests to monitor the level of calcium in your blood. Your calcium level may drop in the first 10 days after your infusion and your doctor may prescribe you calcium and vitamin D supplements to prevent this. (Vitamin D is needed by the body to help it absorb calcium.) If the amount of calcium in your blood falls too low, this may cause symptoms such as muscle spasms, numbness, or tingling sensations, especially in the area around the mouth. Tell your doctor if you get any of these symptoms.
- It is important that you drink enough fluid both before and after your infusion to prevent dehydration. Follow your doctors instructions.
- The class of medicines that zoledronic acid belongs to (bisphosphonates) has been associated with a condition called osteonecrosis of the jaw. The majority of cases of this condition have been in cancer patients treated with bisphosphonates by injection into a vein and many of these patients were also having treatment with chemotherapy or corticosteroids. However, the risk may also be increased by poor oral hygiene, dental problems, teeth extractions and oral surgery. For this reason, your doctor may want you to have a dental examination and, if necessary, appropriate preventive dentistry, before you start treatment with this medicine. Discuss this with your doctor. It is important to look after your mouth and teeth as much as possible while you are receiving this medicine. Invasive dental procedures such as tooth extraction or surgery should be avoided if possible. If you need to see a dentist during treatment, make sure they know you are receiving this medicine.
Use with caution in
- Decreased kidney function.
- Dehydration.
- People receiving treatment with diuretic medicines.
- Disorders of the parathyroid gland (gland that produces hormones responsible for regulating calcium metabolism).
- Vitamin D deficiency.
Not to be used in
- Allergy to other bisphosphonate medicines.
- People with a low level of calcium in their blood (hypocalcaemia).
- Children and adolescents.
- Pregnancy.
- Breastfeeding.
This medicine should not be used if you are allergic to one or any of its ingredients. Please inform your doctor or pharmacist if you have previously experienced such an allergy.
If you feel you have experienced an allergic reaction, stop using this medicine and inform your doctor or pharmacist immediately.
Pregnancy and breastfeeding
Certain medicines should not be used during pregnancy or breastfeeding. However, other medicines may be safely used in pregnancy or breastfeeding providing the benefits to the mother outweigh the risks to the unborn baby. Always inform your doctor if you are pregnant or planning a pregnancy, before using any medicine.
- The safety of this medicine during pregnancy has not been established. It should not be used during pregnancy. Seek medical advice from your doctor.
- It is not known if this medicine passes into breast milk. It should not be given to women who are breastfeeding. Seek medical advice from your doctor.
Side effects
Medicines and their possible side effects can affect individual people in different ways. The following are some of the side effects that are known to be associated with this medicine. Just because a side effect is stated here does not mean that all people using this medicine will experience that or any side effect.
- Flu-like symptoms.
- High temperature (fever).
- Disturbances of the gut, such as diarrhoea, indigestion, nausea and vomiting.
- Headache.
- Dizziness.
- Bone pain.
- Pain in the muscles or joints.
- Pain in the extremities, eg hands and feet.
- Low blood calcium level (hypocalcaemia).
- Shortness of breath.
- Lethargy.
- Fatigue.
- Weakness or loss of strength (asthenia).
- Loss of appetite.
- Difficulty sleeping (insomnia).
- Redness, swelling or pain at the infusion site.
- Rash.
- Irregular heartbeat (atrial fibrillation).
- Inflammation of the membrane lining the eye (conjunctivitis).
- Decreased kidney function.
The side effects listed above may not include all of the side effects reported by the drug's manufacturer.
For more information about any other possible risks associated with this medicine, please read the information provided with the medicine or consult your doctor or pharmacist.
How can this medicine affect other medicines?
It is important to tell your doctor or pharmacist what medicines you are already taking, including those bought without a prescription and herbal medicines, before you start treatment with this medicine. Similarly, check with your doctor or pharmacist before taking any new medicines while taking this one, to ensure that thecombination is safe.
This medicine should be used with caution in people who are taking medicines that can affect kidney function, eg aminoglycoside antibiotics such as gentamicin, or that can cause dehydration, eg diuretics such as furosemide.
23 Sep, 2011
ZOLEDRONIC ACID/THUỐC ĐIỀU TRỊ LOÃNG XƯƠNG QUA ĐƯỜNG TRUYỀN DỊCH
Công trình nghiên cứu này có tên đầy đủ là 'Hiệu quả y tế và giảm nguy cơ gãy xương qua thử nghiệm Zoledronic acid' (gọi tắt theo tiếng Anh là HORIZON). Được thực hiện trên cơ sở đa quốc gia, nhiều thành phần tham gia và có sử dụng nhóm đối chứng, nghiên cứu này nhằm thẩm định hiệu quả sử dụng dịch truyền Zoledronic acid (Aclasta) 5 mg trong việc ngăn ngừa gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh. Kết quả nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Y học New England vào ngày 3/5.
300 USD cho 15 phút truyền dịch
Có tổng cộng 7.765 phụ nữ mãn kinh và bị loãng xương đã tham gia vào cuộc thử nghiệm mới nhất này. Trong đó, 3.889 người sử dụng Aclasta, và số còn lại được tiêm giả dược.
Sau 3 năm thử nghiệm, so với nhóm sử dụng giả dược, nhóm sử dụng Aclasta có nguy cơ gãy xương thấp hơn 41% cho xương hông và 70% cho xương sống. Trong khi đó, các loại thuốc viên chống loãng xương hiện nay chỉ giúp giảm nguy cơ gãy xương sống ở tỉ lệ từ 40 - 50% mà thôi.
Nhóm nghiên cứu cho biết Aclasta giúp tăng cường mật độ xương và sự trao đổi chất trong xương ở phụ nữ sau mãn kinh. Aclasta được bào chế dưới dạng dịch truyền; việc truyền thuốc chỉ mất khoảng 15 phút nhưng có công hiệu trong 12 tháng. Chi phí cho mỗi lần truyền là khoảng 300 USD.
Nhóm nghiên cứu cho biết Aclasta, có tên y khoa là zoledronic acid, có thể dùng để thay thế hữu hiệu cho các loại thuốc viên bisphosphonate được sử dụng hàng ngày cho người bị loãng xương.
Đối với những bệnh nhân không thích hoặc không thể uống thuốc viên thì Aclasta là sự chọn lựa tốt.
Với việc uống thuốc bisphosphonate dạng viên, bệnh nhân phải uống thuốc với 1 ly nước đầy trong lúc bụng đói, và sau đó phải đứng thẳng người trong ít nhất 30 phút. Ngoài ra, thuốc này còn có tác dụng phụ là gây viêm thực quản.
Do đó, sau khi uống thuốc này trong khoảng 6 tháng đến 1 năm, nhiều bệnh nhân đã không tiếp tục sử dụng nữa.
Theo Giáo sư Richard Eastell, thuộc trường Đại học Sheffield, việc ra đời của thuốc bổ sung canxi dưới dạng dịch truyền với những lợi điểm của nó so với thuốc viên là tin vui không chỉ cho phụ nữ Anh mà cho tất cả phụ nữ trên toàn thế giới, đặc biệt là những người đã mãn kinh.
Hiện nay, nhà sản xuất thuốc nói trên đang xin giấy phép để sử dụng Aclasta cho phụ nữ sau mãn kinh ở Anh. Tổng số phụ nữ đang sử dụng thuốc chống loãng xương ở nước này được ước tính là 480.000 người.
Tác dụng phụ: Trên 31% người dùng có thể bị sốt, đau cơ
Giáo sư David Reid, thuộc Trường Đại học Aberdeen, người đứng đầu một trong những trung tâm y khoa của Anh tham gia vào nghiên cứu này, phát biểu: 'Việc ngăn chặn gãy xương hông vẫn còn là một điều tối quan trọng trong điều trị loãng xương, vì thực tế cho thấy khoảng 6 tháng sau khi bị gãy xương này, gần 1/5 số bệnh nhân đã tử vong.
Ông nói: 'Vì lẽ đó, việc tỉ lệ gãy xương hông giảm được 41% có ý nghĩa rất lớn về mặt lâm sàng'.
Các bác sĩ tỏ ra ưa chuộng phương thức điều trị mỗi năm 1 lần, vì họ muốn tránh tình trạng bệnh nhân quên uống thuốc hoặc uống không đúng theo hướng dẫn.
Tuy nhiên, tiến sĩ Steven R. Goldstein, giáo sư sản khoa và phụ khoa của trường Y khoa thuộc Đại học New York, phát biểu: 'Aclasta là một sự thay thế hấp dẫn, nhưng không phải cho tất cả mọi người. Nghiên cứu này được thực hiện đối với phụ nữ sau mãn kinh, do đó những phụ nữ trẻ không nên ‘chạy theo’ liệu pháp này'.
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, Aclasta cũng có một số tác dụng phụ mà mọi người cần biết. Trước hết, thuốc này có thể làm tăng nguy cơ nhịp tim bất thường.
Theo một bài viết của hãng tin Reuters, tỉ lệ phụ nữ bị nhịp tim bất thường sau khi được truyền Aclasta là 1/77; trong khi đó, tờ Science Daily dẫn lời tiến sĩ Dennis Black cho biết tỉ lệ đó nhỏ hơn 1/100. Ông Black nói: 'Tỉ lệ tăng nguy cơ nhịp tim bất thường là rất nhỏ, vì thế cần phải xem xét trong sự so sánh với lợi ích của việc giảm nguy cơ gãy xương mà Aclasta tạo ra'.
Hơn nữa, theo tiến sĩ Black, các bác sĩ không chắc rằng nhịp tim bất thường đó có phải là tác dụng phụ của thuốc hay không, vì đa số các trường hợp như thế xảy ra sau hơn 30 ngày kể từ khi truyền dịch. Ông đề nghị xem xét lại vấn đề này.
Ngoài ra, kết quả thử nghiệm cũng cho thấy sau khi được truyền Aclasta lần đầu tiên, có 31,6% bệnh nhân có những triệu chứng như sốt, nhức đầu, đau cơ, đau khớp hoặc cúm, trong khi ở nhóm uống giả dược, tỉ lệ này chỉ là 6,2%.
Tuy nhiên, tỉ lệ xuất hiện những triệu chứng này đã giảm xuống còn 6,6% sau lần truyền thứ hai và chỉ còn 2,8% sau lần truyền thứ 3. Trong khi đó, theo tờ Science Daily, những triệu chứng nói trên xảy ra chỉ trong 3 ngày đầu sau lần truyền đầu tiên (năm đầu tiên) và không xảy ra ở 2 lần truyền sau đó.
Minh Quang (Theo BBC/ Science Daily/ Reuters)
| Suy giảm chức năng thận do Zoledronic Acid |
|
Nguy cơ suy giảm chức năng thận do việc tiêm truyền biphosphonat với tốc độ nhanh đã được biết rõ. Hội đồng tư vấn về tác dụng có hại của thuốc (úc) đã nhận được một số báo cáo về suy giảm chức năng thận hoặc suy thận do pamidronate và các thuốc biphosphonat dạng uống risedronate và aledronate, nhưng có khá nhiều báo cáo liên quan đến zoledronic acid (31/286 báo cáo). Suy giảm chức năng thận do zoledronic acid (biệt dược Zometa) thường là cấp tính, trong nhiều trường hợp có vẻ không liên quan đến tốc độ tiêm truyền. Trong số 31 báo cáo liên quan đến zoledronic acid có 16 trường hợp suy thận, 15 trường hợp suy giảm chức năng thận… Có 3 trường hợp viêm thận kẽ. Zoledronic acid được chỉ định để điều trị đa u tuỷ xương (13 trường hợp), ung thư vú (5 trường hợp), ung thư tuyến tiền liệt (4 trường hợp), u tương bào (1 trường hợp), u melanin ác tính (1 trường hợp), loãng xương (1 trường hợp), di căn xương (1 trường hợp), cốt tuỷ viêm (1 trường hợp). Có 4 báo cáo không nêu rõ ly? do chỉ định thuốc. Hội đồng Tư vấn về tác dụng có hại của thuốc (úc) yêu cầu khi kê đơn biphosphonat cần theo dõi thật sát sao các yếu tố nguy cơ dẫn tới suy thận và tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn sử dụng thuốc. WHO Drug information Vol 21, No 4, 2007
Đơn vị Thông tin Thuốc, BVBM |
20 Sep, 2011
NANG HOẠT DỊCH KHỚP CỔ TAY
NANG HOẠT DỊCH CỔ TAY
Nang hoạt dịch cổ tay xuất phát từ bao khớp hay bao gân. Nó có thể tìm thấy ở nhiều vị trí khác nhau trên cổ tay, mặt lòng hay mặt lưng, bên quay hay bên trụ. Thông thường nó mọc lên ở mặt lưng cổ tay. Bệnh nhân phát hiện nó khi gấp tối đa cổ tay và thấy nó lồi lên ngay định cao của cổ tay. Những khối u này không đau và biến mất khi duỗi thẳng cổ tay nếu kích thước nhỏ hơn 2cm. Một số khác có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì đặc biệt.
NGUYÊN NHÂN
Cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác được nguyên nhân hình thành nang. Giả thuyết dãn bao khớp do những chấn động lập đi lập lại ở những bà nội trợ hay những chấn thương bong gân cổ tay cũ đã được đề cập ở một số tác giả có lẽ dựa vào tỉ lệ ở nữ cao hơn nam nhiều lần và tiền sử chấn thương cổ tay được ghi nhận ở nhiều bệnh nhân. Giả thuyết này được củng cố bởi phân tích dịch rút ra từ nang có cấu trúc giống hệt dịch trong khớp.
TRIỆU CHỨNG
Thông thường nang họat dịch cổ tay không đau. Nếu nó đau có nghĩa nó gây chèn ép các dây thần kinh cảm giác xung quanh nó. Một số khác bị nhiễm trùng thứ phát do vết thương da kế cận hay truyền qua đường máu. Kích thước không phải là nguyên nhân gây đau vì có những nang nhỏ lại đau nhiều hơn các khối lớn. Có những nang nhỏ không làm chồi da nhưng gây đau. Những trường hợp này thường khó chẩn đoán và thường bị điều trị nhầm như một viêm khớp, Uống thuốc mãi không hết đau, phẫu thuật mở vào mới biết là nang hoạt dịch.
CHẨN ĐOÁN
Nang hoạt dịch có 3 đặc tính khác với các khối u là không đau, kích thuớc thay đổi theo tư thế cổ tay và không thay đổi sau một thời gian dài Chụp phim Xquang để loại trừ u xương. Siêu âm để phân biệt với các khôi u phần mềm khác như bướu mỡ, bướu bã. Với những nang nhỏ không sờ thấy hay nhìn thấy được, người ta phải chỉ định dùng MRI để xác định.
- ĐIỀU TRỊ
- Theo dõi.Với những nang không gây phiền phức gì cho người bệnh thì người ta chỉ theo dõi mà không xử trí gì cả.
- Bất động. Cử động khớp nhiều có thể làm tăng kích thước của nang nên người ta có thể dùng nẹp cổ tay để hạn chế sự vận động. Điều này sẽ giúp giảm đau nhất là những ca gây chèn ép thần kinh lân cận.
- Thoát dịch. Nếu nang bị đau hay hạn chế vận động do kích thước lớn thì bác sĩ có thể chọc hút dịch trong nang ra. Tuy nhiên sau một thời gian ngắn nó có thể tái phát lại. Vì thế giải pháp phẫu thuật sẽ được xem xét nếu bệnh nhân yêu cầu.

- Phẫu thuật. Phẫu thuật cắt bỏ nang và khâu lại phần cuống thông với khớp. Cố định khớp cổ tay 2 – 3 tuần mới được phép cử động trở lại.


18 Sep, 2011
Có thể kéo dài chi bằng phương pháp tế bào gốc ?
Về mặt chuyên môn, có hai lọai kéo dài cẳng chân: thẩm mỹ và bệnh lý.
1.Thẩm mỹ nghĩa là phẫu thuật cho những người có đôi chân bình thường
nhưng bị ngắn. Vì thế khi kéo dài ra phải tính đến vấn đề chiều dài
của chân phải phù hợp với thân và cân đối giữa các bộ phận Đầu - Thân
- Tay - Đùi - Cẳng chân. Có như vậy mới đảm bảo sau khi hòan thành thì
mọi chức năng của cơ thể vẫn bình thường như trước mổ.
2. Kéo dài chân bệnh lý còn gọi là chân so le, nghĩa là hai chân có
chiều dài không bằng nhau do tật bẩm sinh, di chứng chấn thương, di
chứng bệnh sốt bại liệt, di chứng bệnh viêm xương tủy và nhiều bệnh
khác nữa. Người ta sẽ kéo dài chân đó sau cho bằng với chân kia. Ở
những trường hợp này, người ta có thể kéo dài không chỉ 10 cm mà còn
có thể đến 20 - 30 cm.
Một vấn đề nữa là thời gian mang khung kéo dãn bao nhiêu lâu. Với kỹ
thuật Ilizarov cổ điển thì thời gian này khỏang 1 năm cho chiều dài 5
6 cm dãn ra. Đó là chưa kể biến chứng gãy dưới can xương mới tạo ra
(do chưa tạo lập ống tủy xương.) sau khi tháo khung.
Để khắc pũục những khuyết điểm của phương pháp này, người ta đưa ra
phương pháp mới là LON (Lengthening Over Nail). Với LON, người bệnh có
thể tháo khung sau 3 tháng với chiều dài 5-6 cm dãn ra. Ống tủy đồng
thời tạo lập cùng can xương nên không có biến chứng gãy quanh can
xương mới.
Phương pháp tế bàp gốc nghĩa là người ta chọc hút tủy xương trong
xương cánh chậu và bơm vào các vùng can xương đế kích thích thêm sự
tạo xương do trong dịch tủy xương có nhiều nguyên bào xương. Điều này
là biện pháp bổ sung cho những bệnh nhân có cơ địa tạo xương yếu, ví
dụ như ngơời lớn tuổi, suy nhược, bệnh nội khoa, chấn thương cũ làm hư
màng xươngở xương kéo dài......
Phương pháp này đã được áp dụng hơn 10 năm nay ở các bệnh viện trong
TPHCM như bệnh viện Chợ rẫy, bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình để điều
trị theo đúng chỉ định, đặc biệt là cho di chứng chậm liền xương trong
điều trị gãy xương
Cần lưu ý có rất nhiều người không tìm hiểu kỹ sẽ nhầm lẫn vì bơm tủy
xương là biện pháp bổ sung, kích thích thêm chứ không phải bơm tủy
xương vào xương bình thường là làm cho xương dài ra.
5 Jul, 2011
MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ

MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ
THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ
Bs Huỳnh Bá Lĩnh
Rất nhiều người đau vùng vai-cổ sau khi chụp Xquang cột sống cổ “bị” qui kết là thoái hóa cột sống cổ hay gai cột sống cổ. Điều trị với chẩn đoán như vậy một thời gian dài với nhiều bác sĩ nhưng vẫn không dứt hẳn làm nhiều người bệnh lo lắng đến mất ngủ. Trong tâm trí nhiều người, thoái hóa cột sống là một căn bệnh dai dẳng khó chịu không có thuốc chữa.
THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ LÀ GÌ ?
Cơ thể con người tất yếu phải tiến đến sự lão hóa, trong y khoa còn gọi là sự thoái hóa. Vì thế thoái hóa cột sống cổ cũng như thoái hoá cột sống thắt lưng là một tất yếu của cơ thể. Nó được xem là một rối loạn trong sinh lý hơn là một chứng bệnh. Sự lão hoá làm biên dạng các đĩa dệm giữa các đốt sống và hình dạng của các đốt sống.
Một số bệnh nhân trẻ hơn bị thoái hóa cột sống cổ do những nguyên nhân khác gây biến đổi cấu trúc chịu lực của cột sống cổ như chấn thương (gãy xương, trật khớp, rách dây chằng) hay bệnh thấp khớp, viêm dính khớp…
Những triệu chứng lâm sàng của thoaí hóa cột sống cổ thường nghèo nàn, và mơ hồ như nhức mỏi vùng vai-cổ, thỉnh thoảng đau mỏi vùng gáy, xoay cổ nghe tiếng lạo xạo, lụp cụp. Thỉnh thoảng bệnh nhân ngủ dây có những cơn đau cứng cổ không xoay cổ được.
Người ta xác định thoái hoá cột sống cổ chủ yếu bằng X quang chứ ít khi dựa vào triệu chứng lâm sàng. Trên phim cột sống cổ, người ta có thể thấy được những hình ảnh như khe khớp giữa hai đốt sống bị hẹp lạ do các đĩa đệm bị xẹp. Thân đốt sống không còn hình chữ nhật nữa mà bị lõm các cạnh tạo ra các gai nhọn ở các góc. Để dễ hiểu người ta gọi đó là các gai xương. Nguyên nhân là khi lớn tuổi, tình trạng loãng xương sẽ làm các đốt sống bị xốp, tính chịu lực kém đi. Dưới tác động của các lực đè ép trong các tư thế làm việc và sinh hoạt, các đốt sống sẽ bị biến dạng dần dần theo thời gian ngày một nhiều hơn. So với cột sống cổ, thoái hóa cột sống thắt lưng thường nặng hơn vì nó chịu lực đè ép nhìều hơn.
Ngoài ra còn có thể thấy trục cột sống bị vẹo sang bên hay bị gù so với đường cong sinh lý bình thường, Lỗ sống bị hẹp nhỏ lại.
Có rất nhiều người chụp Xquang thấy hình ảnh THCS cổ rất điển hình nhưng không hề có triệu chứng gì cả. Khi đau nhức rõ ràng và kéo dài tức là nó đã có biến chứng chèn ép tủy sống, hay là các rễ thần kinh cổ.
HỘI CHỨNG CHÈN ÉP TUỶ CỔ
Những dấu hiệu của chèn ép tủy cổ thể hiện khác nhau tùy theo sợi thần kinh nào bị chèn ép. Có thể phân biệt thành hai nhóm chính cảm giác và vận động.
- Cảm giác: bao gồm tê và đau nhức. Dấu hiệu gợi ý nhiều nhất là tê dài từ vùng vai cổ lan xuống bàn tay, ngón tay. Tê từng cơn trong ngày. Nặng hơn thì sẽ tê thường xuyên suốt cả ngày. Tê thường xuất hiện nhiều vào tối ngủ hay sáng vừa thức dậy.
- Vận động: như là yếu, liệt cơ chi trên làm yếu tay, hiếm khi ảnh hưởng đến chân (phần chi dưới thường do các rễ vận động từ cột sống thắt lưng chi phối)
- Các triệu chứng khác: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, cứng gáy thì ít gặp hơn
- Khám có thể thấy thêm những triệu chứng khác như cúi gập cổ gây tê tay hay đau nhức lan xuống bàn tay. Ấn đau mỏm gai hay cạnh các đốt sống. Có khi động tác ấn này còn tạo ra cơn đau hay tê chạy dài dọc theo cánh tay của người bệnh. Những dấu hiệu này rất có giá trị chẩn đoán.
- Đau vùng vai cổ có thể nhầm lẫn với bệnh lý của khớp vai. Nhức đầu cứng cổ cứng gáy có thể do viêm xoang hay cao huyết áp gây nhầm lẫn. Triệu chứng tê tay có lúc do hộc chứng ống cổ tay chèn ép thần kinh giữa. Vì thế người ta phải dùng thêm các phương tiện cận lâm sàng khác như đo điện cơ EMG, hay chụp cắt lớp cộng hưởng từ MRI để phân biệt và xác định.

Thoái hóa cột sống cổ chí là một trong nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng chèn ép tủy cổ như hẹp ống sống, thoát vị đĩa đệm, u bướu, gãy xương, trượt đốt sống, mất vững cột sống do rách dây chằng…. Sự nhầm lẫn có thể tạo ra những lo lắng không đáng có cho nhiều người bệnh.
ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ.
Thoái hóa cột sống cổ không có triệu chứng thì chỉ cần các biện pháp ngăn ngừa sự lão hóa như
- Các loại thực phẩm chức năng như Glucosamin hoặc thuốc chống thoái hóa khớp xương như Diacerin.
- Các chương trình thể dục dưỡng sinh giúp tăng cường sự dẻo dai của các dây chằng, gân cơ và khớp xương,
- Các bài tập vật lý trị liệu kéo dãn cột sống.
- Chống loãng xương bằng dinh dưỡng và vận động phù hợp.Nếu loãng xương nặng thì sử dụng thêm các loại thuốc chữa loãng xương
Thoái hóa cột sống có triệu chứng của hội chứng chèn ép rễ thần kinh cổ (tủy sống):
Nguyên tắc điều trị là giải quyết sự chèn ép song song với điều trị các triệu chứng gây khó chịu cho người bệnh.
Người ta có thể phối hợp nhiều loại thuốc trong điều trị nội khoa như thuốc kháng viêm NSAIDl, các loại thuốc dãn cơ, thuốc giảm đau, thuốc hướng thần kinh như Mecobalamin
Bên cạnh điều trị nội khoa có thể phải đặt thêm nẹp cổ để giúp hạn chế bớt lực đè ép lên rễ thần kinh cổ. Nếu điều trị này không hiệu quả, diễn tiến bệnh ngày càng nặng hơn thì phẫu thuật giải ép, thay đĩa đệm, cố định nẹp vis sẽ được cân nhắc chỉ định cho người bệnh.
5 Jul, 2011
MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ

MỘT SỐ ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ
THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ
Bs Huỳnh Bá Lĩnh
Rất nhiều người đau vùng vai-cổ sau khi chụp Xquang cột sống cổ “bị” qui kết là thoái hóa cột sống cổ hay gai cột sống cổ. Điều trị với chẩn đoán như vậy một thời gian dài với nhiều bác sĩ nhưng vẫn không dứt hẳn làm nhiều người bệnh lo lắng đến mất ngủ. Trong tâm trí nhiều người, thoái hóa cột sống là một căn bệnh dai dẳng khó chịu không có thuốc chữa.
THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ LÀ GÌ ?
Cơ thể con người tất yếu phải tiến đến sự lão hóa, trong y khoa còn gọi là sự thoái hóa. Vì thế thoái hóa cột sống cổ cũng như thoái hoá cột sống thắt lưng là một tất yếu của cơ thể. Nó được xem là một rối loạn trong sinh lý hơn là một chứng bệnh. Sự lão hoá làm biên dạng các đĩa dệm giữa các đốt sống và hình dạng của các đốt sống.
Một số bệnh nhân trẻ hơn bị thoái hóa cột sống cổ do những nguyên nhân khác gây biến đổi cấu trúc chịu lực của cột sống cổ như chấn thương (gãy xương, trật khớp, rách dây chằng) hay bệnh thấp khớp, viêm dính khớp…
Những triệu chứng lâm sàng của thoaí hóa cột sống cổ thường nghèo nàn, và mơ hồ như nhức mỏi vùng vai-cổ, thỉnh thoảng đau mỏi vùng gáy, xoay cổ nghe tiếng lạo xạo, lụp cụp. Thỉnh thoảng bệnh nhân ngủ dây có những cơn đau cứng cổ không xoay cổ được.
Người ta xác định thoái hoá cột sống cổ chủ yếu bằng X quang chứ ít khi dựa vào triệu chứng lâm sàng. Trên phim cột sống cổ, người ta có thể thấy được những hình ảnh như khe khớp giữa hai đốt sống bị hẹp lạ do các đĩa đệm bị xẹp. Thân đốt sống không còn hình chữ nhật nữa mà bị lõm các cạnh tạo ra các gai nhọn ở các góc. Để dễ hiểu người ta gọi đó là các gai xương. Nguyên nhân là khi lớn tuổi, tình trạng loãng xương sẽ làm các đốt sống bị xốp, tính chịu lực kém đi. Dưới tác động của các lực đè ép trong các tư thế làm việc và sinh hoạt, các đốt sống sẽ bị biến dạng dần dần theo thời gian ngày một nhiều hơn. So với cột sống cổ, thoái hóa cột sống thắt lưng thường nặng hơn vì nó chịu lực đè ép nhìều hơn.
Ngoài ra còn có thể thấy trục cột sống bị vẹo sang bên hay bị gù so với đường cong sinh lý bình thường, Lỗ sống bị hẹp nhỏ lại.
Có rất nhiều người chụp Xquang thấy hình ảnh THCS cổ rất điển hình nhưng không hề có triệu chứng gì cả. Khi đau nhức rõ ràng và kéo dài tức là nó đã có biến chứng chèn ép tủy sống, hay là các rễ thần kinh cổ.
HỘI CHỨNG CHÈN ÉP TUỶ CỔ
Những dấu hiệu của chèn ép tủy cổ thể hiện khác nhau tùy theo sợi thần kinh nào bị chèn ép. Có thể phân biệt thành hai nhóm chính cảm giác và vận động.
- Cảm giác: bao gồm tê và đau nhức. Dấu hiệu gợi ý nhiều nhất là tê dài từ vùng vai cổ lan xuống bàn tay, ngón tay. Tê từng cơn trong ngày. Nặng hơn thì sẽ tê thường xuyên suốt cả ngày. Tê thường xuất hiện nhiều vào tối ngủ hay sáng vừa thức dậy.
- Vận động: như là yếu, liệt cơ chi trên làm yếu tay, hiếm khi ảnh hưởng đến chân (phần chi dưới thường do các rễ vận động từ cột sống thắt lưng chi phối)
- Các triệu chứng khác: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, cứng gáy thì ít gặp hơn
- Khám có thể thấy thêm những triệu chứng khác như cúi gập cổ gây tê tay hay đau nhức lan xuống bàn tay. Ấn đau mỏm gai hay cạnh các đốt sống. Có khi động tác ấn này còn tạo ra cơn đau hay tê chạy dài dọc theo cánh tay của người bệnh. Những dấu hiệu này rất có giá trị chẩn đoán.
- Đau vùng vai cổ có thể nhầm lẫn với bệnh lý của khớp vai. Nhức đầu cứng cổ cứng gáy có thể do viêm xoang hay cao huyết áp gây nhầm lẫn. Triệu chứng tê tay có lúc do hộc chứng ống cổ tay chèn ép thần kinh giữa. Vì thế người ta phải dùng thêm các phương tiện cận lâm sàng khác như đo điện cơ EMG, hay chụp cắt lớp cộng hưởng từ MRI để phân biệt và xác định.

Thoái hóa cột sống cổ chí là một trong nhiều nguyên nhân gây ra hội chứng chèn ép tủy cổ như hẹp ống sống, thoát vị đĩa đệm, u bướu, gãy xương, trượt đốt sống, mất vững cột sống do rách dây chằng…. Sự nhầm lẫn có thể tạo ra những lo lắng không đáng có cho nhiều người bệnh.
ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA CỘT SỐNG CỔ.
Thoái hóa cột sống cổ không có triệu chứng thì chỉ cần các biện pháp ngăn ngừa sự lão hóa như
- Các loại thực phẩm chức năng như Glucosamin hoặc thuốc chống thoái hóa khớp xương như Diacerin.
- Các chương trình thể dục dưỡng sinh giúp tăng cường sự dẻo dai của các dây chằng, gân cơ và khớp xương,
- Các bài tập vật lý trị liệu kéo dãn cột sống.
- Chống loãng xương bằng dinh dưỡng và vận động phù hợp.Nếu loãng xương nặng thì sử dụng thêm các loại thuốc chữa loãng xương
Thoái hóa cột sống có triệu chứng của hội chứng chèn ép rễ thần kinh cổ (tủy sống):
Nguyên tắc điều trị là giải quyết sự chèn ép song song với điều trị các triệu chứng gây khó chịu cho người bệnh.
Người ta có thể phối hợp nhiều loại thuốc trong điều trị nội khoa như thuốc kháng viêm NSAIDl, các loại thuốc dãn cơ, thuốc giảm đau, thuốc hướng thần kinh như Mecobalamin
Bên cạnh điều trị nội khoa có thể phải đặt thêm nẹp cổ để giúp hạn chế bớt lực đè ép lên rễ thần kinh cổ. Nếu điều trị này không hiệu quả, diễn tiến bệnh ngày càng nặng hơn thì phẫu thuật giải ép, thay đĩa đệm, cố định nẹp vis sẽ được cân nhắc chỉ định cho người bệnh.
12 May, 2011
ĐAU TRONG PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI
ĐAU TRONG PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI QUA ĐINH (LON)
Bs Huỳnh Bá Lĩnh,
Bệnh viện FV
Trước khi phẫu thuật, người bệnh nào cũng sợ bị đau. Khống chế cơn đau do phẫu thuật luôn được y học nghiên cứu và đạt nhiều thành công. Nhờ đó nhiều ca mổ lớn đã được thực hiện thành công đem lại nhiều lợi ích cho nhân loại.
- Đau trong phẫu thuật.
Phẫu thuật kéo dài chi được thực hiện trong các phòng mổ chuyên về xương khớp với những tiêu chuẩn bảo đảm vô trùng nghiêm ngặt hơn những phòng mổ thông thường. Bác sĩ gây mê và ê kíp gây mê sẽ thực hiện các phương pháp vô cảm trong phòng mổ.
Để không bị đau trong lúc mổ, người bệnh sẽ được gây mê nội khí quản, tức là gây mê toàn thân (General anesthesia) hoặc gây tê tuỷ sống (Spinal anesthesia). Gây mê sẽ phong bế hoàn toàn ý thức của não bộ vì thế người bệnh không còn biết đau. Phương pháp này áp dụng cho các ca mổ lớn, kéo dài vì người ta kiểm soát hoàn toàn sự hô hấp và tuần hoàn của người bệnh. Gây tê tủy sống là ức chế đưòng thần kinh cảm giác từ tủy sống xuống hai chân. Vì thế người bệnh hoàn toàn tỉnh táo trong khi cuộc mổ đang diễn ra. Gần đây người ta còn phổ biến thêm gây tê ngoài màng cứng nhằm giúp tăng thời gian giảm đau cho bệnh nhân không chỉ trong khi mổ mà cả thời gian sau mổ. Phương pháp này tương tư như tê tuỷ sống nhưng người ta sẽ lưu lại một đường truyền thuốc tê vào bao ngoài màng cứng của tuỷ sống. Khi nào thuốc hết tác dụng, người ta lại bơm thêm vào một liều thuốc mới.
2. Đau hậu phẫu
- Đau do các vết thương:
Sau mổ, trên mỗi cẳng chân sẽ có 3 vết thương dài 3cm và 8 lỗ đinh. Cơn đau này dễ dàng khắc phục bằng các loại giảm đau dạng uống hay chích. Đau nhiều nhất trong đêm đầu tiên hậu phẫu. Sau đó giảm dần trong 3 ngày.
- Đau do tụ máu
Máu tụ từ các chỗ xương bị cắt gãy sẽ gây cảm giác đau nhức do hiện tượng tăng áp lực trong các khoang cơ, tác động lên các dây thần kinh cảm giác nằm trong khoang. Thường đau này kèm theo tê. Để giảm bớt sự tụ máu, nguời ta sẽ ép hai đầu xương lại với nhau (ép khung). Nằm kê chân cao cũng giúp giảm bớt sự ứ máu. Thao tác mổ tinh tế, gây ít sang chấn cũng giúp giảm bớt hiện tượng máu tụ, nhờ đó giúp giảm đau hậu phẫu.
- Đau do kim K của khung kéo xương xuyên qua cơ.
Đau khi nguời bệnh cử động cổ chân hay ngón chân. Khắc phục bằng cách xuyên kim ở tư thế chùng cơ,
3. Đau do viêm chân đinh.
Do vùng da quanh chân kim bị cấn, bị căng.
Do lạm dụng thuốc sát trùng quanh chân kim.
Do mang khung quá lâu (trên 6 tháng)
4. Đau khi đi lại:
Khi mang khung kéo dãn xương , đi lại nhiều sẽ làm dồn máu xuống các vết thương gây sưng bàn chân và nhức cẳng chân. Khắc phục bằng cách nằm nghỉ kê chân cao.
5. Đau do sự kéo dãn:
Khi kéo dãn khung thì các mô mềm cũng sẽ được kéo dãn theo cùng với hai đoạn xương đã được cắt rời trong cuộc mổ. Phần mềm có hai yếu tố quan trọng là mạch máu và thần kinh. Người ta thấy nếu thực hiện kéo dãn trên 1mm/ngày thì sẽ gây hiện tượng co thắt mạch máu, nặng gây hoại tử chi, nhẹ gây co rút gân cơ (hội chứng Volkman). Thần kinh cũng vậy, sẽ xuất hiện các dâu hiệu như tê, đau nhức dữ dội và liệt cử động các ngón chân, cổ chân. Vì thế người bệnh cần phải tôn trọng tốc độ kéo dãn theo hướng dẫn của bác sĩ và ngưng chỉnh khung ngay khi có dấu hiệu bất thường.
Ngoài ra, do tâm lý sợ hãi các biến chứng do chỉnh quá nhanh, một số bệnh thực hiện sự kéo dãn quá chậm. Điều này cũng có thể gây biến chứng can dính xương sớm. Bệnh nhân sẽ rất đau nhức do không kéo dãn xương ra được. Các cây kim bị cong do lực căng. Khắc phục bằng cách mổ cắt lại phần can xương bị dính.
6. Đau do nhiễm trùng vết thương.
Cơn đau kèm theo sốt và sưng đau ngay tại các vết thương. Nhiễm trùng có thể do nhiều nguyên nhân như cơ địa, giảm sức đề kháng, chăm sóc vết thương không tốt, phòng mổ tiệt trùng không đạt, khâu vô trùng dụng cụ phẫu thuật kém… Khắc phục bằng cách dùng kháng sinh, chăm sóc vết thương đúng cách, nâng sức đề kháng cơ thể, loại bỏ các yếu tố nguy cơ nhiễm trùng cơ hội, kiểm tra và thực hiện các khâu tiệt trùng chặt chẽ.
7. Đau khi tập các bài tập chống co rút gân.
Khắc phục bằng cách sử dụng một số thuốc giảm đau, chườm nóng để dãn cơ, chườm lạnh khi bị sưng. Chú ý tập luyện phải tôn trọng nguyên tắc kiên nhẫn tập kéo dãn gân từ từ, mỗi lần một chút nhưng kiên trì nhiều lần trong ngày. Nhiều bệnh nhân có tâm lý nóng vội. Những ngày đầu tiên tập quá sức, bị đau lại sợ bỏ tập. Chú ý tập nhẹ nhàng trong những ngày đầu và tăng dần dần cường độ cũng như tầm độ sẽ có kết quả khả quan.
25 Mar, 2011
TUỔI NÀO NÊN KÉO DÀI CHÂN ?
Người ta thực hiện phẫu thuật kéo dài chân cho mọi lứa tuổi nếu bị so le chi (chân ngắn chân dài).
Riêng với kéo dài chân thẩm mỹ, thì phải cân nhắc vì phải tiến hành cùng lúc phẫu thuật trên hai chân.
Lứa tuổi tốt nhất để thực hiện phẫu thuật kéo dài chân thẩm mỹ là từ 18 – 25.
Thông thường khi xương đã trưởng thành và không còn phát triển dài thêm nữa thì chỉ có thể dùng phẫu thuật kéo dài ra. Tuổi ngừng phát triển xương ở nữ là 14 và nam là 16. Điều này được xác định chắc chắn qua hình ảnh sụn tiếp hợp ở vùng đầu xương đùi và xương chày đã đóng lại.
Từ 40 tuổi trở lên, cơ thể người có nhiều biến đổi lão hóa, nhất là sự suy giảm các nội tiết tố sinh dục có liên quan đến sự tạo xương và hủy xương. Trong phẫu thuật kéo dài chân, rất cần sự tạo xương lấp đầy khỏang trống giữa hai đầu xương được kéo dãn. Vì thế nếu sự tạo xương yếu có thể làm xương chậm lành. Để khắc phục điều này cho những bệnh nhân lớn tuổi, có nhiều cách khác nhau để kích thích sự tạo xương. Ví dụ như:
- Kỹ thuật bơm tủy xương lấy từ mào chậu có các tế bào tạo xương (tạo cốt bào osteoblast) để kích thích tạo xương sau khi kết thúc quá trình kéo dãn.
- Chích các nội tiết tố kích thích quá trình tạo xương.
- Ghép xương tự thân hay đồng loại.
![]()
19 Mar, 2011
Petit spider

19 Mar, 2011
QUI TRÌNH KÉO DÀI CHI

19 Jan, 2011
PHẪU THUẬT KÉO DÀI CHI Ở VIỆT NAM KHÁC GÌ SO VỚI NƯỚC NGOÀI. ?
Có nhiều em viết thư hỏi tôi để kéo dài chi có cần thiết phải ra nước ngoài thực hiện hay không ?
Câu trả lời của tôi là không cần thiết.
Tại sao như thế ?
Hai kỹ thuật hiện đại và mới nhất trong phẫu thuật kéo dài chân tính đến hôm nay là :
Kéo dài chân qua đinh (Lengthening Over Nail) và Đinh điện tử (Telescopic Nailing, ở Mỹ gọi là ISKD, từ viết tắt của Intramedullary Skeletal Kinetic Distractor). Trong đó kỹ thuật Điinh điện tử có tỉ lệ nhiễm trùng còn cao và đắt tiền nên chưa phổ biến được. Tuy nhiên người ta dự trù khỏang mười năm nữa khi kỹ thuật hiện đại hơn giới hạn được sự nhiễm trùng và giá rẻ hơn thì đây sẽ là kỹ thuật có nhiều ưu điểm vượt trội. Hiện nay kỹ thuật an toàn và rẻ tiền hơn là LON (Lengthening Over Nail) được nhiều nước sử dụng và được ưa chuộng.


Kỹ thuật LON đã được bác sĩ Huỳnh Bá Lĩnh thực hiện thành công ở Việt Nam lần đầu tiên năm 2004 tại khoa Phẫu thuật Chi dưới Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình. Năm 2007, sau ba năm cho hơn hai mươi trường hợp với đủ các kiểu ngắn chân bệnh lý lẫn thẩm mỹ, đề tài này đã được bác sĩ Lĩnh báo cáo ở Mỷ tại hội nghị quốc tế SIGN có sự chủ trì của giáo sư John Herzenberg.Ông cũng chính là cha đẻ của phương pháp LON nổi tiếng này. Tại hội nghị này, giáo sư J.Herzenberg tỏ ra rất ngạc nhiên với báo cáo của Việt nam vì ông không nghĩ rằng ở một nước nghèo như Việt nam có thể thực hiện được điều này. Ở Mỹ chi phí cho một ca mổ LON có chi phí từ 70 000 - 100 000 USD. Cho đến nay ở châu Á không kể Việt nam thì chỉ có những nước có nền y khoa hàng đầu như Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc, Thổ nhĩ kỳ, mới có phổ biến kỹ thuật này. Với các nước Đông Nam Á, chưa có công trình nào về LON được công bố ngọai trừ Việt nam.
Kỹ thuật LON hiện nay được bác sĩ Huỳnh Bá Lĩnh thực hiện ở một số bệnh viện ở TPHCM, đặc biệt là bệnh viện Pháp Việt (FV Hospital) cùng với các tiêu chuẩn chuyên môn hàng đầu khu vực châu Á. Với các kỹ thuật giảm đau tiên tiến, bệnh nhân hòan tòan không c3m thấy đau đớn trong thời gian nằm viện. Sau mổ bệnh nhân có thể tự di chuyển với sự hỗ trợ của nạng trong thời gian 3 tháng mang khung kéo dãn chân. Khi chân đã đạt đủ chiều dài mong muốn, khung kéo sẽ được mổ tháo ra. Sau đó bệnh nhân sẽ đi lại bình thường với đôi chân mới.
Tỉ lệ biến chứng của phương pháp LON đạt hơn 90%, điều này cũng đã được xác nhận ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã thực hiện. Dĩ nhiên tỉ lệ chỉ có ý nghĩa khi các phẫu thuật viên thực hiện đúng hòan tòan các chi tiết kỹ thuật của phương pháp. Điều này đòi hỏi tay nghề kinh nghiệm của các phẫu thuật viên. Bên cạnh đó chất lượng khung kéo xương và đinh nội tủy đặt trong người bệnh nhân cũng cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế. Tránh sử dụng các sản phẩm rẻ tiền và kém chất lượng.
Chí phí toàn bộ cho phẫu thuật LON (Đặt khung và tháo khung) thực hiện tại bệnh viện FV khoảng từ 5000 - 8000 USD
Chi phí ở Thái lan kéo dài chân thẩm mỹ theo pp Ilizarov cổ điển là 300 000 - 400 000 baht ( 8000 - 10000 USD).
Ở Trung Quốc chi phí phẫu thuật kéo dài chân ở Thương Hải là 10 000 - 12 000 USD
Các bạn có thể xem thêm trang dượi đây
| Cosmetic Leg Lengthening: Hospitals | ![]() |
|
This page lists facilities world-wide that perform Cosmetic Leg Lengthening operations. While surgery can be performed at a fraction of the cost in some less developed countries, it is important for anyone considering this surgery to understand that medical care varies considerably by country. Prospective patients should only consider admitting themselves to a hospital outside their own country if they have a significant personal support structure nearby, as well as fluency in the local language. Facilities are listed alphabetically by country. Costs are provided where known and are expressed in US dollars. Due to the recent decline in the value of the U.S. dollar, many of the prices below are probably understated.
|
14 Dec, 2010
Tại sao ngồi lâu đau lưng
2 Nov, 2010
NGÓN TAY CÒ SÚNG - TRIGGER FINGER


9 Oct, 2010
CHÍCH NHỜN KHỚP GỐI ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA SỤN KHỚP
CHÍCH NHỜN KHỚP GỐITRONG ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP
Bs Huỳnh Bá Lĩnh
Trưởng Đon Vi Phẫu thuật Xương Khớp
Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh
Thoái hóa khớp gối nói cho dễ hiểu làsự lão hóa lớp sụn khớp gối. Bình thường đầu xương đùi và xương chày nằm trongkhớp và được bao phủ bởi một lớp sụn khớp có tính đàn hồi màu trắng đục, bong,trơn láng. Lớp sụn khớp này có tác dụng bảo vệ đầu xương trong các cử động củakhớp nhờ tính trơn láng và đàn hồi của nó. Lớp sụn này dày khoảng 3 - 5 mm. Vìthế khi chụp phim X quang ta thấy được khoảng hở giữa hai đầu xương, gọi là khekhớp được xem như hình ảnh gián tiếp củalớp sụn khớp
Thoái hóa khớp gối làm đau gối khi ngồixổm đứng dậy, khi đi lại đặc biệt là lên xuống dốc, thang lầu hay đường không bằngphẳng. nhiều người bệnh còn có cảm giác bị trẹo gối khi đi lại. Những lúc đócơn đau thốn và khớp gối có cảm giác bị đơ, một lúc sau mới gấp duỗi lại được.
Thoái hóa khớp gối thường gặp ở ngườigià, lớn tuổi do sự lão hóa. Tuy nhiên ở người trẻ vẫn có thể bị chứng bệnh nàynhưng có nguyên nhân khác như bị chấn thương khớp gối gây dập vỡ lớp sụn khớphoặc các bệnh khớp mãn tính gây tổn thương lớp sụn khớp, bệnh lý bẩm sinh làm lệchtrục xương khiến áp lực đè lên lớp sụn khớp không đều...
Nguyên tắc điều trị thoái hóa khớp gốilà
· Loại bỏ hoặc hạnchế tối đa các yếu tố bất lợi gây ra cho lớp sụn khớp.
· Tăng cường các yếutố có lợi cho lớp sụn khớp.
· Phục hồi lớp sụnkhớp bị tổn thương.
· Thay thế lớp sụnkhớp hư bằng sụn khớp nhân tạo.
Chích nhờn khớp gối chủ yếu dựa vàonguyên tắc (2). Người ta bơm vào khớp chất Hyaluronic Acid dưới dạng dung dịchmuối Hyaluronate Natri. Những hoạt chấtnày gọi chung là Hyaluronan.
Hyaluronic Acid được tìm thấy từ 1930 ở một ngôi làng Nhật bảntên là Yuzuri Hara, làng có nhiều người sống thọ. Bí quyết những cư dân ở đây là sử dụng các sảnphẩm dinh dưỡng có nồng độ cao glycosaminoglycan khiến người già ở đây có lànda ít bị nhăn và mắt luôn sáng. Hyaluronic Acid là hoạt chất thuộc nhóm Glycosaminoglycans nói trên. Năm 1934, các nhà khoa học Mỹ ở Đại họcColumbia đã tổng hợp được nó trong phòng thí nghiệm. Nó được sử dụng trong điềutrị lâm sàng ở Nhật và Italia từ 1987, ở Canada từ 1992 và chính thức ở Mỹ từ1997 (FDA approved).
Công thức hóa học của AcidHyaluronic.
Hyaluronic Acid có nhiều trong da, thủytinh thể, sụn khớp, dây rốn và nhất là hoạt dịch. Chất hoạt dịch được màng baobọc các cơ quan trong cơ thể tiết ra như màng khớp, màng ối, màng phổi, màng ruột,màng tim, màng não ...
Dung dịch acid Hyaluronic acid vừađóng vai trò chất bôi trơn vừa có tính giảm xóc. Vì thế nó đóng vai trò như một hàng rào bảo vệcho lớp sụn khớp. Khi thiếu hụt Acid Hyaluronic, các hiện tượng xâm lấn và pháhủy do lục chấn động cùng hiện tượngviêm sẽ làm hư lớp sụn khớp và phóng thích các chất trung gian gây ra triệu chứngđau khớp.
Người ta sản xuất các loại Hyaluronantừ mào gà trống hoặc từ quá trình lên men của vi khuẩn Streptococcus. Người ta chia thành 2 nhóm : nhóm phân tử lượngnhẹ < 1 triệu đơn vị Dalton, nhóm phân tử lượng lớn trên 1 triệu đơn vịDalton. Loại Hyaluronan phân tử lượng nhỏ còn có tác dụng kích thích hoạt mạctiết ra dịch Hyaluronic Acid nội sinh. Nhờ vậy, nó giúp kéo dài được tác dụng củathuốc hơn các loại phân tử lượng cao.
Vì có công thức gần giống với tựnhiên và có tác dụng như một loại thuốc bổ dưỡng, bảo vệ sụn khớp nên ở Mỹ, ngườita xem Hyaluronan là Viscosupplemental ( bổ sung chấtnhờn).
Thuốc được chích vào khớp gối mỗi tuần1 ông 2ml chứa 20mg muối Sodium Hyaluronate (muối Natri của acid hyaluronic).Liều chích 3 ống có tác dụng kéo dài đến 3 - 6 tháng tùy theo phân tử lượng và tính chất riêng củatừng sản phẩm Hyaluronan.
Do thuốc chỉ có tác dụng bổ sung độnhờn trong khớp nên chỉ định sử dụng trong các trường hợp thoái hóa khớp gối độI, độ II. Qua đến độ III, có sự phá hủy nặng lớp sụn và cấu trúc xương dưới sụnthì hiệu quả chỉ dừng ở mức giảm đau. Lúc đó người ta có chỉ định thay sụn khớpnhân tạo haycòn gọi là thay khớp gối.
Khi được chích nhờn khớp gối, người bệnhcòn cần phải phối hợp với các biện pháp điều trị khác song song cùng lúc như giảmcân, hạn chế đi lại, mang vác nặng, chạy nhảy. Luyện tập các bài tập VLTL nhưngồi đạp xe, bơi lội... Vì Hyaluronan không phải là thuốc giảm đau mà chỉ giúpngười bệnh giảm đau qua cơ chế bổ sung chất nhờn nên người bệnh cần tránh các vậnđộng có hại cho khớp. Hyaluronan có thể được sử dụng kết hợp với các loại thuốcgiảm đau, kháng viêm hay điều trị thoái hóa khớp khác.
5 Oct, 2010
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐÔNG LÀ GÌ?
Thuốc kháng động là các loại thuốc làmgiảm khả năng hình thành cục máu đông (huyết khối) trong hệ tuần hoàn. Thuốckháng đông uống thường sử dụng là loại thuốc kháng đông đối kháng vitamine Knhư: Sintrom(acenocoumarol), Coumadine(Warfarine) ...
Thuốc kháng đông được sử dụng cho nhữngbệnh nhân có khả năng tạo ra cục huyết khối có hại như bệnh nhân có: thay vancơ học, nhịp tim không đều (Rung nhĩ), ... hay được dùng cho những bệnh nhân màtrước đó có sự hình thành huyết khối có hại gây tắc mạch máu phổi ( thuyên tắcphổi), tắc mạch máu não (đột quỵ), cục máu đông ở chân ( huyết khối tĩnh mạusâu chi dưới). Ngoài ra thuốc kháng đông còn dùng cho những bệnh nhân có cụchuyết khối sẵn (huyết khối trong buồng tim hay trong mạch máu) ngăn không chocục huyết khối to hơn nữa.
CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA THUỐC?
Đông máu là một quá trình phức tạp cósự tham gia của nhiều chất( yếu tố đông máu). Các yếu tố đông máu do gan sảnxuất cần có sự tham gia của vitamine K. Do đó các loại thuốc kháng đông kháng vitamineK làm giảm quá trình đông máu, ngăn ngừa sự hình thành các cục huyết khối cóhại hay ngăn các cục huyết khối không to thêm. Các loại thuốc kháng đông khôngcó tác dụng làm tiêu các cục huyết khối đã hình thành.
LIỀU DÙNG VÀ THEO DÕI NHƯ THẾ NÀO?
Mỗi bệnh nhân có một liều dùng riêng vàcó thể khác nhau giữa các ngày tùy thuộc tình trạng đông máu của mỗi người. Khisử dụng thuốc kháng đông uống cần phải theo dõi tình trạng đông máu mỗi khi táikhám. Xét nghiệm theo dõi là TP-INR( PT: Prothrombin time: thời gianProthrombin - INR: International Normalized Ratio: tỉ lệ chuẩn theo quốc tế).Mỗi bệnh nhân có một nguỡng INR thích hợp cho mục tiêu điều trị. Nếu INR caohơn nguỡng điều trị thì bệnh nhân sẽ tăng nguy cơ chảy máu, có thể dẫn nhiềutai biến nguy hiểm. Nguợc lại nếu INR thấp hơn nguỡng điều trị thì mục tiêudùng kháng đông không đạt.
CÁC LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG UỐNG:
· Nên uống thuốc vàomột thời điểm nhất định trong ngày. Nếu quên thuốc hãy cố gắng uống ngay trongngày khi có thể, không đuợc uống gấp đôi liều vào hôm sau.
· Tư vấn với bác sĩcác loại thuốc và thực phẩm chức năng mà bạn đã, đang hoặc có ý định sẽ sửdụng.
· Thông báo với bácsĩ là bạn đang dùng thuốc kháng đông uống khi tình trạng sức khỏe bạn cần dùngthêm thuốc họăc thực hiện các thủ thuật.
· Không tham gia cáchọat động thể lực hoặc các môn thể thao mạnh có khả năng gây chấn thuơng (đábóng, bóng rổ...). Chú ý trong di chuyển tránh té ngã và chấn thuơng.
· Cần báo ngay chobác sĩ và tái khám ngay khi bạn có các dấu hiện sau: ho ra máu, ói ra máu, tiêuphân đen như bả cà phê, nuớc tiểu đỏ hoặc màu xá xị, bầm da tự phát, sưng đaunhiều ở khớp hay vùng chấn thuơng, chóng mặt khi thay đổi tư thế, nhức đầu dữdội...
· Hiệu quả của thuốcbị ảnh huởng nhiều bởi chế độ ăn. Tránh thay đổi quá nhiều chế độ ăn thuờngngày. Hạn chế (không cấm tuyệt đối) các thức ăn có nhiều vitamine K như: cácloại cây họ đậu( giá đỗ, đậu nành, đậu khuôn...), các loại rau tươi đậm màu( bôngcải xanh, lá cải tươi, rau hành tươi, rau cải xoong, rau diếp tươi, rau mùi tây...),một số lọai quả (quả lê, măng tây...)
· Thuốc kháng đônguống không dùng cho phụ nữ có thai đặc biệt là 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thaikỳ. Phải thông báo cho bác sĩ nếu bạn đang có thai hay dự định có thai. Loạithuốc kháng đông warfarin (Coumadine) có thể sử dụng cho phụ nữ cho con bú.
· Sử dụng thuốc khángđông uống cần phải thử xét nghiệm máu định kỳ mỗi khi tái khám hoặc khi có dấuhiệu bất thuờng. Nếu không có điều kiện đến cơ sở y tế, bạn có thể kiểm tra INRbằng máy thử INR bằng máu mao mạch( bấm đầu ngón tay - máy Coaguchek *), trongtruờng hợp này bạn nên biết nguỡng INR điều trị của mình.
Tài liệu tham khảo:
· Uptodate 17.1
· Guide toanticoagulant therapy. Part 2: Oral anticoagulants. American Heart Association.
5 Oct, 2010
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐÔNG LÀ GÌ?
Thuốc kháng động là các loại thuốc làmgiảm khả năng hình thành cục máu đông (huyết khối) trong hệ tuần hoàn. Thuốckháng đông uống thường sử dụng là loại thuốc kháng đông đối kháng vitamine Knhư: Sintrom(acenocoumarol), Coumadine(Warfarine) ...
Thuốc kháng đông được sử dụng cho nhữngbệnh nhân có khả năng tạo ra cục huyết khối có hại như bệnh nhân có: thay vancơ học, nhịp tim không đều (Rung nhĩ), ... hay được dùng cho những bệnh nhân màtrước đó có sự hình thành huyết khối có hại gây tắc mạch máu phổi ( thuyên tắcphổi), tắc mạch máu não (đột quỵ), cục máu đông ở chân ( huyết khối tĩnh mạusâu chi dưới). Ngoài ra thuốc kháng đông còn dùng cho những bệnh nhân có cụchuyết khối sẵn (huyết khối trong buồng tim hay trong mạch máu) ngăn không chocục huyết khối to hơn nữa.
CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA THUỐC?
Đông máu là một quá trình phức tạp cósự tham gia của nhiều chất( yếu tố đông máu). Các yếu tố đông máu do gan sảnxuất cần có sự tham gia của vitamine K. Do đó các loại thuốc kháng đông kháng vitamineK làm giảm quá trình đông máu, ngăn ngừa sự hình thành các cục huyết khối cóhại hay ngăn các cục huyết khối không to thêm. Các loại thuốc kháng đông khôngcó tác dụng làm tiêu các cục huyết khối đã hình thành.
LIỀU DÙNG VÀ THEO DÕI NHƯ THẾ NÀO?
Mỗi bệnh nhân có một liều dùng riêng vàcó thể khác nhau giữa các ngày tùy thuộc tình trạng đông máu của mỗi người. Khisử dụng thuốc kháng đông uống cần phải theo dõi tình trạng đông máu mỗi khi táikhám. Xét nghiệm theo dõi là TP-INR( PT: Prothrombin time: thời gianProthrombin - INR: International Normalized Ratio: tỉ lệ chuẩn theo quốc tế).Mỗi bệnh nhân có một nguỡng INR thích hợp cho mục tiêu điều trị. Nếu INR caohơn nguỡng điều trị thì bệnh nhân sẽ tăng nguy cơ chảy máu, có thể dẫn nhiềutai biến nguy hiểm. Nguợc lại nếu INR thấp hơn nguỡng điều trị thì mục tiêudùng kháng đông không đạt.
CÁC LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG UỐNG:
· Nên uống thuốc vàomột thời điểm nhất định trong ngày. Nếu quên thuốc hãy cố gắng uống ngay trongngày khi có thể, không đuợc uống gấp đôi liều vào hôm sau.
· Tư vấn với bác sĩcác loại thuốc và thực phẩm chức năng mà bạn đã, đang hoặc có ý định sẽ sửdụng.
· Thông báo với bácsĩ là bạn đang dùng thuốc kháng đông uống khi tình trạng sức khỏe bạn cần dùngthêm thuốc họăc thực hiện các thủ thuật.
· Không tham gia cáchọat động thể lực hoặc các môn thể thao mạnh có khả năng gây chấn thuơng (đábóng, bóng rổ...). Chú ý trong di chuyển tránh té ngã và chấn thuơng.
· Cần báo ngay chobác sĩ và tái khám ngay khi bạn có các dấu hiện sau: ho ra máu, ói ra máu, tiêuphân đen như bả cà phê, nuớc tiểu đỏ hoặc màu xá xị, bầm da tự phát, sưng đaunhiều ở khớp hay vùng chấn thuơng, chóng mặt khi thay đổi tư thế, nhức đầu dữdội...
· Hiệu quả của thuốcbị ảnh huởng nhiều bởi chế độ ăn. Tránh thay đổi quá nhiều chế độ ăn thuờngngày. Hạn chế (không cấm tuyệt đối) các thức ăn có nhiều vitamine K như: cácloại cây họ đậu( giá đỗ, đậu nành, đậu khuôn...), các loại rau tươi đậm màu( bôngcải xanh, lá cải tươi, rau hành tươi, rau cải xoong, rau diếp tươi, rau mùi tây...),một số lọai quả (quả lê, măng tây...)
· Thuốc kháng đônguống không dùng cho phụ nữ có thai đặc biệt là 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thaikỳ. Phải thông báo cho bác sĩ nếu bạn đang có thai hay dự định có thai. Loạithuốc kháng đông warfarin (Coumadine) có thể sử dụng cho phụ nữ cho con bú.
· Sử dụng thuốc khángđông uống cần phải thử xét nghiệm máu định kỳ mỗi khi tái khám hoặc khi có dấuhiệu bất thuờng. Nếu không có điều kiện đến cơ sở y tế, bạn có thể kiểm tra INRbằng máy thử INR bằng máu mao mạch( bấm đầu ngón tay - máy Coaguchek *), trongtruờng hợp này bạn nên biết nguỡng INR điều trị của mình.
Tài liệu tham khảo:
· Uptodate 17.1
· Guide toanticoagulant therapy. Part 2: Oral anticoagulants. American Heart Association.
5 Oct, 2010
THUỐC KHÁNG ĐÔNG
THUỐC KHÁNG ĐÔNG LÀ GÌ?
Thuốc kháng động là các loại thuốc làmgiảm khả năng hình thành cục máu đông (huyết khối) trong hệ tuần hoàn. Thuốckháng đông uống thường sử dụng là loại thuốc kháng đông đối kháng vitamine Knhư: Sintrom(acenocoumarol), Coumadine(Warfarine) ...
Thuốc kháng đông được sử dụng cho nhữngbệnh nhân có khả năng tạo ra cục huyết khối có hại như bệnh nhân có: thay vancơ học, nhịp tim không đều (Rung nhĩ), ... hay được dùng cho những bệnh nhân màtrước đó có sự hình thành huyết khối có hại gây tắc mạch máu phổi ( thuyên tắcphổi), tắc mạch máu não (đột quỵ), cục máu đông ở chân ( huyết khối tĩnh mạusâu chi dưới). Ngoài ra thuốc kháng đông còn dùng cho những bệnh nhân có cụchuyết khối sẵn (huyết khối trong buồng tim hay trong mạch máu) ngăn không chocục huyết khối to hơn nữa.
CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA THUỐC?
Đông máu là một quá trình phức tạp cósự tham gia của nhiều chất( yếu tố đông máu). Các yếu tố đông máu do gan sảnxuất cần có sự tham gia của vitamine K. Do đó các loại thuốc kháng đông kháng vitamineK làm giảm quá trình đông máu, ngăn ngừa sự hình thành các cục huyết khối cóhại hay ngăn các cục huyết khối không to thêm. Các loại thuốc kháng đông khôngcó tác dụng làm tiêu các cục huyết khối đã hình thành.
LIỀU DÙNG VÀ THEO DÕI NHƯ THẾ NÀO?
Mỗi bệnh nhân có một liều dùng riêng vàcó thể khác nhau giữa các ngày tùy thuộc tình trạng đông máu của mỗi người. Khisử dụng thuốc kháng đông uống cần phải theo dõi tình trạng đông máu mỗi khi táikhám. Xét nghiệm theo dõi là TP-INR( PT: Prothrombin time: thời gianProthrombin - INR: International Normalized Ratio: tỉ lệ chuẩn theo quốc tế).Mỗi bệnh nhân có một nguỡng INR thích hợp cho mục tiêu điều trị. Nếu INR caohơn nguỡng điều trị thì bệnh nhân sẽ tăng nguy cơ chảy máu, có thể dẫn nhiềutai biến nguy hiểm. Nguợc lại nếu INR thấp hơn nguỡng điều trị thì mục tiêudùng kháng đông không đạt.
CÁC LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG ĐÔNG UỐNG:
· Nên uống thuốc vàomột thời điểm nhất định trong ngày. Nếu quên thuốc hãy cố gắng uống ngay trongngày khi có thể, không đuợc uống gấp đôi liều vào hôm sau.
· Tư vấn với bác sĩcác loại thuốc và thực phẩm chức năng mà bạn đã, đang hoặc có ý định sẽ sửdụng.
· Thông báo với bácsĩ là bạn đang dùng thuốc kháng đông uống khi tình trạng sức khỏe bạn cần dùngthêm thuốc họăc thực hiện các thủ thuật.
· Không tham gia cáchọat động thể lực hoặc các môn thể thao mạnh có khả năng gây chấn thuơng (đábóng, bóng rổ...). Chú ý trong di chuyển tránh té ngã và chấn thuơng.
· Cần báo ngay chobác sĩ và tái khám ngay khi bạn có các dấu hiện sau: ho ra máu, ói ra máu, tiêuphân đen như bả cà phê, nuớc tiểu đỏ hoặc màu xá xị, bầm da tự phát, sưng đaunhiều ở khớp hay vùng chấn thuơng, chóng mặt khi thay đổi tư thế, nhức đầu dữdội...
· Hiệu quả của thuốcbị ảnh huởng nhiều bởi chế độ ăn. Tránh thay đổi quá nhiều chế độ ăn thuờngngày. Hạn chế (không cấm tuyệt đối) các thức ăn có nhiều vitamine K như: cácloại cây họ đậu( giá đỗ, đậu nành, đậu khuôn...), các loại rau tươi đậm màu( bôngcải xanh, lá cải tươi, rau hành tươi, rau cải xoong, rau diếp tươi, rau mùi tây...),một số lọai quả (quả lê, măng tây...)
· Thuốc kháng đônguống không dùng cho phụ nữ có thai đặc biệt là 3 tháng đầu và 3 tháng cuối thaikỳ. Phải thông báo cho bác sĩ nếu bạn đang có thai hay dự định có thai. Loạithuốc kháng đông warfarin (Coumadine) có thể sử dụng cho phụ nữ cho con bú.
· Sử dụng thuốc khángđông uống cần phải thử xét nghiệm máu định kỳ mỗi khi tái khám hoặc khi có dấuhiệu bất thuờng. Nếu không có điều kiện đến cơ sở y tế, bạn có thể kiểm tra INRbằng máy thử INR bằng máu mao mạch( bấm đầu ngón tay - máy Coaguchek *), trongtruờng hợp này bạn nên biết nguỡng INR điều trị của mình.
Tài liệu tham khảo:
· Uptodate 17.1
· Guide toanticoagulant therapy. Part 2: Oral anticoagulants. American Heart Association.









